Lương Đình Hải - Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

PGS. TSKH. Lương Đình Hải
(Viện trưởng Nghiên cứu Con người) 

1. Thuật ngữ “Hệ giá trị nói chung”, và “Hệ giá trị Việt Nam” nói riêng, là một khái niệm mà cho đến nay chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu với tính cách là một khái niệm khoa học chặt chẽ, chính xác như nhiều khái niệm khác trong các ngành khoa học xã hội và tự nhiên. Dù người ta có thể xem nó là khái niệm của triết học, của tâm lý học, của nhân học, của giáo dục học, của giá trị học hay của bất cứ ngành khoa học xã hội, nhân văn nào đi nữa thì tình trạng ấy cũng đều đang hiện hữu. Hệ giá trị, như nhiều nhà nghiên cứu hiện nay quan niệm, có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm trong nó nhiều loại giá trị khác nhau: có loại giá trị cốt lõi, có giá trị phổ quát, có loại giá trị chung nhân loại, có loại giá trị dân tộc - quốc gia, có loại giá trị cộng đồng tộc người, có loại giá trị cá thể, có loại giá trị xã hội, có loại giá trị con người,… Trong mỗi loại giá trị như vậy lại có nhiều giá trị nhỏ khác nhau. Bản thân mỗi giá trị, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể lại là một biến số, có giá trị vĩnh hằng, dù vị trí trong thang bậc cũng có thể không cố định, lại có giá trị chỉ là giá trị trong một giai đoạn lịch sử nào đó. Sự thay đổi vị trí, thang bậc trong bảng giá trị càng khiến cho các quan điểm, quan niệm, cách hiểu về giá trị càng thêm khác biệt.


Quan niệm về giá trị ở các tác giả, các công trình còn rất khác nhau[1]. Nhưng trên bình diện chung nhất có thể hiểu rằng giá trị là những sự vật, hiện tượng, quá trình hay tất cả những thứ được con người xem là có ý nghĩa nhất định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của con người, xã hội. Nó bao hàm cả mặt chủ quan lẫn khách quan gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau. Bản thân các sự vật, hiện tượng, quá trình, sự biến, tồn tại khách quan, nhưng nếu không có sự đánh giá của con người, không được con người xem là có ý nghĩa đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của họ thì các sự vật, hiện tượng, quá trình, sự biến đó không có giá trị[2]. Giá trị là phần cốt lõi, trục chính, căn bản của văn hóa, nhưng không thể quan niệm rằng nó là một hình thái tinh thần. Giá trị nằm ngay trong bản thân các sự vật, hiện tượng, quá trình, nó có khía cạnh khách quan, hay nói cách khác, nó tồn tại khách quan. Đây là điều kiện cần của mọi giá trị.

Tuy vậy, trong một số từ điển, tài liệu, công trình, có người lại xem nó là hình thái tinh thần nên nó có tính chủ quan. “Vẻ đẹp không phải ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà là ở trong đôi mắt của kẻ si tình”. Quan niệm ấy và những biểu hiện khác nhau của nó không phải không có căn cứ. Sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại khách quan, nhưng không có ý nghĩa đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của con người và cộng đồng và chưa được con người nhận thức ra ý nghĩa đó thì chúng vẫn chưa có giá trị. Vậy là cái khách quan phải được cái chủ quan bao trùm lên thì nó mới hiện hữu giá trị. Đây là điều kiện đủ cho sự tồn tại của giá trị. Nhưng cái chủ quan lại không phải lúc nào cũng giống nhau ở các chủ thể khác nhau. Chính vì lẽ đó, giá trị còn là sản phẩm quá trình nhận thức của các chủ thể. Không có sự nhận thức và đánh giá của các chủ thể thì sự vật vẫn chỉ là sự vật mà không hề có giá trị. Nhận thức càng phát triển thì giá trị càng được khai mở, càng nhiều thêm, phong phú thêm, đa dạng hơn. Con người trong xã hội hiện đại đương nhiên biết đến, hiểu rõ nhiều giá trị hơn con người cổ đại.

Giá trị không thể chỉ là cái quy định mục đích của hoạt động và động cơ thúc đẩy hoạt động đạt được mục đích đó[3]. Bản thân giá trị là một hiện hữu với một người này, thế hệ này, nhưng chưa hẳn đã hiện hữu với người khác, thế hệ khác. Do vậy, giá trị phải được nhận thức thông qua lao động, thực tiễn, qua giáo dục, thông tin, truyền thông,… Theo nghĩa đó, giá trị còn được “sáng tạo” trong quá trình tồn tại của con người. Giá trị chỉ gắn với con người, xã hội. Bên ngoài con người, xã hội, giá trị không tồn tại, dù sự vật, hiện tượng, quá trình, sự biến vẫn tồn tại. Con người và xã hội có thể “cải biến” các sự vật, hiện tượng, quá trình để chúng trở nên có giá trị hoặc có giá trị hơn đối với mình. Các giá trị có liên quan với nhau có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Khó ai có thể liệt kê được hết các giá trị cụ thể, dù chỉ là các giá trị trong một giai đoạn lịch sử xác định nào đó. Các giá trị trong xã hội tạo nên hệ thống giá trị, trong đó mỗi giá trị có vị trí thang bậc xác định. Nhưng vị trí thang bậc đó không phải là nhất thành bất biến mà thay đổi theo những điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Khi các quan hệ xã hội thay đổi thì hệ giá trị, trật tự thang bậc cũng sẽ bị thay đổi.

Theo sự phát triển của lịch sử và tiến bộ của con người, xã hội, hệ thống các giá trị cũng sẽ có những thay đổi theo xu hướng cô đọng, bổ sung nội dung cho các giá trị cốt lõi, căn bản, nền tảng, chung, phổ quát của xã hội và củng cố thêm vị trí của chúng; một số giá trị sẽ biến mất, một số giá trị khác sẽ xuất hiện. Trong xã hội luôn tồn tại các giá trị, hệ giá trị, thang giá trị, định hướng giá trị. Định hướng giá trị được thực hiện theo thang giá trị, hệ giá trị và các giá trị cụ thể. Với mỗi xã hội, con người cụ thể, hệ giá trị thường bao hàm hệ giá trị chung, cốt lõi và hệ giá trị riêng, bộ phận, đặc thù, gắn liền với điều kiện, không - thời gian và chủ thể xác định. Thông thường, trên thế giới, khi các nước nêu hệ giá trị hay bảng giá trị của họ thì đều không nêu cụ thể được hết toàn bộ các giá trị của họ mà chỉ nêu một số giá trị có tính cốt lõi nào đó mà thôi[4]. Đương nhiên, các giá trị cốt lõi trong hệ giá trị tổng thể của chúng có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ và tác động qua lại không tách rời nhau. Để thực hiện được các giá trị cốt lõi không thể không thực hiện các giá trị khác trong bảng giá trị tổng thể. Nhưng quan hệ giữa các giá trị cốt lõi của xã hội, của con người với các giá trị không cốt lõi, đặc thù, bộ phận không chỉ là quan hệ phụ thuộc, mà các giá trị đặc thù, bộ phận, đơn lẻ luôn có tính độc lập tương đối. Có thể có trường hợp thực hiện được các giá trị cốt lõi, nhưng giá trị bộ phận, đặc thù, đơn lẻ lại không thể thực hiện được, hoặc trở nên không còn là giá trị.

Hệ giá trị hay bảng giá trị của một cộng đồng được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài, được sàng lọc, gạt bỏ, bổ sung, tiếp biến và phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Hệ giá trị dù có biến đổi thường xuyên, liên tục, nhưng cũng có độ trễ so với những biến đổi của các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có tính ổn định tương đối, có sự bền vững, bất biến, “trường tồn” ở những mức độ và phạm vi nhất định. Hệ giá trị được lưu giữ, truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ khác, trở thành tài sản, hành trang của các thế hệ mang suốt cuộc đời. Nó trở thành thước đo hành vi, hoạt động của mỗi con người, cộng đồng trong xã hội, của từng thời kỳ lịch sử cụ thể, là “khuôn mẫu” để mỗi người và cả cộng đồng định hướng cho các hành vi và hoạt động của mình. Nếu các hành vi, hành động ấy, dù theo đúng khuôn mẫu ấy, nhưng mang lại hệ lụy không tốt, không đáp ứng lợi ích chung hoặc riêng, hiện tại hoặc tương lai thì những khuôn mẫu cụ thể, những giá trị đơn lẻ, hoặc những nội dung xác định của giá trị đó sẽ bị loại bỏ dần. Lợi ích của các chủ thể xã hội là một trong những yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự định hình hay vượt bỏ một giá trị cụ thể nào đó, làm thay đổi trật tự và toàn bộ bảng giá trị nói chung ở những thời kỳ lịch sử xác định. Thông thường, tại những thời điểm cụ thể khi mà đời sống xã hội có những thay đổi mạnh mẽ, ví dụ xảy ra những thay đổi cách mạng trong từng lĩnh vực chính trị hay văn hóa, khoa học và công nghệ,… thì bảng giá trị lại được kiểm định lại, được bổ sung và được điều chỉnh cho phù hợp hơn. Ở những thời kỳ biến đổi cách mạng như vậy, hệ giá trị có những chuyển đổi mạnh mẽ và rõ rệt nhất.

2) Dựa trên những quan niệm chung về hệ giá trị đang tồn tại hiện nay, chúng ta cũng chưa đủ cơ sở khoa học để xác định ngoại diên của khái niệm hệ giá trị, dù rằng chỉ là khái niệm công cụ. Hệ giá trị, hệ giá trị Việt Nam cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn thực sự đang là khái niệm cần được các khoa học đầu tư nghiên cứu. Theo tôi, hiện khó có thể có được một bảng liệt kê đầy đủ về hệ giá trị Việt Nam. Trong thực tế, chúng ta có rất nhiều các giá trị khác nhau, và một cách tương đối, chúng ta có các hệ giá trị cụ thể, bộ phận khác nhau, ví dụ hệ giá trị con người Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị đạo đức, hệ giá trị xã hội,… Chắc chắn rằng mỗi người, mỗi cộng đồng đều có thể liệt kê cho mình một hệ giá trị không giống hoàn toàn với những người khác, cộng đồng khác, cả về số lượng, thành phần và vị trí của từng giá trị, mặc dù chắc chắn rằng trong đó sẽ có những giá trị giống nhau. Việc xây dựng một hệ giá trị chung, thống nhất, được đông đảo các thành viên xã hội thừa nhận và lấy đó để định hướng hành vi, hoạt động cho bản thân là rất quan trọng.

Từ thực tế lịch sử của nhiều nước có thể nhận thấy một sự thực là: có thể một nhóm xã hội nào đó, một số thành viên nào đó, thậm chí một bộ phận khá lớn, khá đông đảo quần chúng, không nhất trí, không đồng tình với đường lối, sự điều hành, quản lý của một chính phủ hay một đảng chính trị xác định. Về phương diện này, xã hội bị phân chia, không thống nhất. Nhưng họ lại thường xuyên, liên tục thực hiện các hành vi, hoạt động theo các chuẩn mực, thước đo giá trị trong hệ giá trị xã hội của quốc gia, dân tộc đó. Về phương diện này họ thống nhất, không chia rẽ. Đây chính là khía cạnh rất quan trọng đảm bảo sự thống nhất quốc gia, sự ổn định xã hội, là nền tảng tinh thần và là sức mạnh mềm của quốc gia - dân tộc. Khía cạnh khác biệt này giữa chính trị và giá trị còn ít được các nhà nghiên cứu lưu ý và ít được nghiên cứu. Hệ giá trị cũng là một trong những yếu tố cấu thành căn bản, then chốt, cốt lõi của văn hóa dân tộc. Thiếu nó khó có thể định hình bộ mặt của dân tộc. Định hướng giá trị nói riêng, hệ giá trị nói chung là một trong những thành tố duy trì, phát triển bản sắc, cốt cách dân tộc - quốc gia.

Hệ giá trị của Việt Nam đã tồn tại, hoạt động và chi phối các hành vi, hoạt động của cả cộng đồng. Nhưng việc xác định nó gồm những giá trị nào là một việc không đơn giản. Nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu là phải phát hiện, chỉ ra, xác lập một bảng giá trị chính xác, đầy đủ, ít ra cũng ở những giá trị cốt lõi, đủ để định hình được hệ giá trị đó khác biệt với hệ giá trị các dân tộc - quốc gia khác, thể hiện được bản sắc của dân tộc - quốc gia. Điều cần được lưu ý ở đây là trước hết phải định hình được thuật ngữ hệ giá trị Việt Nam về phương diện lý luận. Dù chưa xác định rõ ràng được về phương diện lý luận hệ giá trị Việt Nam, chưa vạch ra được nó gồm những giá trị nào, nhưng trong thực tế nó vẫn tồn tại do nhu cầu thực tiễn con người và xã hội vẫn phải sử dụng. Để sử dụng nó trong những trường hợp, hoàn cảnh cụ thể, người ta vẫn thống nhất được với nhau về những giá trị cụ thể. Tuy nhiên, nếu dùng phương pháp liệt kê và từ đó chỉ ra hệ giá trị, dù là hệ giá trị của một dân tộc như hệ giá trị Việt Nam, hay hệ giá trị con người Việt Nam ở một thời đoạn lịch sử cụ thể, thì chắc chắn hiện cũng chưa thể làm được. Điều này đòi hỏi phải có sự nỗ lực nhiều hơn từ các nhà nghiên cứu và chắc chắn phải trải qua một quá trình chứ không thể chỉ ở một vài đề tài nghiên cứu đơn lẻ.

Trong một số tài liệu, một số nhà nghiên cứu đã cho rằng các đức tính con người Việt Nam mà Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng là hệ giá trị con người Việt Nam, thậm chí là hệ giá trị Việt Nam hiện nay: Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

- Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, nǎng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.

Hoặc: “giá trị bền vững, được vun đắp trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc” là: 1) Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; 2) Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng (gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc); 3) Lòng nhân ái, khoan dung; trọng nghĩa tình, đạo lý; 4) Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; 5) Sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống[5].

Các học giả như Đào Duy Anh hoặc Trần Văn Giàu lại đưa ra những bảng giá trị khác. Ở một số nước trên thế giới cũng có tình trạng là người ta nêu ra 5 - 7 đặc tính chung nào đó của con người dân tộc - quốc gia đó và đẩy nó thành giá trị chung của dân tộc - quốc gia. Thiết nghĩ, đó là cách làm đơn giản, nhưng khó có thể thuyết phục và thiếu căn cứ khách quan, khoa học. Những đặc tính chính yếu của con người Việt Nam như được nêu trong Văn kiện Đảng đã dẫn có cả một số giá trị cốt lõi trong hệ giá trị con người Việt Nam, nhưng không thể đồng nhất các đặc tính mà chúng ta đang và sẽ tiếp tục xây dựng đó với hệ giá trị con người Việt Nam, cũng không thể đồng nhất với hệ giá trị Việt Nam nói chung. Việc chủ trương xây dựng con người với những đặc tính nêu trên cũng như nêu một số giá trị bền vững, được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc như vậy mang một ý nghĩa khác về tầm quan trọng của hệ giá trị mà chúng tôi sẽ nói ở phần sau.

Cũng phải phân định hệ giá trị con người và hệ giá trị xã hội. Hai hệ giá trị này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, giao thoa với nhau. Những giá trị cốt lõi trong hệ giá trị xã hội cũng phải có và thể hiện trong hệ giá trị con người và ngược lại, những giá trị cốt lõi của hệ giá trị con người bao hàm và thể hiện một số những giá trị xã hội. Nhưng chúng không thể là một. Hệ giá trị xã hội không thể là một tập hợp các giá trị con người. Những giá trị như dân chủ, công bằng, bình đẳng vừa là giá trị xã hội, lại vừa là giá trị chung nhân loại, không thể không thể hiện trong bảng giá trị con người, nhưng ở mỗi nước, mỗi dân tộc trong các thời kỳ khác nhau chúng được thể hiện khác nhau. Việc xây dựng hệ giá trị Việt Nam tức hệ giá trị xã hội là bước khởi đầu để trên cơ sở đó xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam.

Cũng phải nói thêm rằng không phải mọi đặc tính của con người hay của một cộng đồng như dân tộc - quốc gia đều có thể xem là giá trị và tập hợp các đặc tính nhất định có thể tạo thành hệ giá trị. Đặc tính có nghĩa là tính cách đặc biệt, đặc thù, riêng có. Nó bao hàm cả đặc tính tốt lẫn xấu và không tốt lẫn không xấu theo nghĩa phù hợp nhiều, ít với sự tồn tại và phát triển của con người hoặc cộng đồng đó. Trong các đặc tính có thể có giá trị, nhưng không phải mọi đặc tính đều có giá trị mà nó chỉ là một đặc điểm, tính chất thuần túy nào đó mà thôi. Khi nói đến tính cách người Nga hay tính cách người Việt thì không có nghĩa rằng đó là hệ giá trị của người Nga hay người Việt. Việc quy các đặc tính con người Việt Nam thành hệ giá trị Việt Nam hay hệ giá trị con người Việt Nam, rõ ràng là không ổn cả về mặt lý luận lẫn thực tế.

Theo khảo sát riêng của chúng tôi, hiện nay khi nói về hệ giá trị hay về giá trị theo nghĩa chung, trong tâm thức mọi người theo thói quen và tập quán thì khía cạnh đạo đức được nhắc đến trước tiên và trong cách hiểu chung luôn nặng về nội dung đạo đức, về trách nhiệm đối với con người, cộng đồng. Trong hệ giá trị cũng luôn có các giá trị văn hóa, các giá trị truyền thống, các giá trị đạo đức, các giá trị chung, phổ quát của nhân loại, của khu vực,... Nhưng giá trị đạo đức có sức nặng riêng, đặc biệt hơn trong hệ giá trị Việt Nam. Điều này có lẽ không chỉ do tập quán và thói quen truyền thống, mà trong thực chất, giá trị đạo đức trong hệ giá trị Việt Nam có vai trò và có ảnh hưởng to lớn. Đứng ngay sau các giá trị đạo đức và rộng hơn nó là các giá trị văn hóa. Sức nặng của các giá trị văn hóa trong hệ giá trị là to lớn bởi ảnh hưởng và tác động của nó đến con người và xã hội luôn hiện hữu, quyết định và chi phối sự biến đổi, phát triển và cả sự tồn vong của dân tộc - quốc gia. Đây chính là nét đặc thù để chúng ta xem xét và là điểm chúng ta cần hết sức lưu ý khi xây dựng hệ giá trị Việt Nam.

Các nhà lý luận vẫn cho rằng luôn tồn tại hai hình thái của giá trị là giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Nếu vậy, trong hệ giá trị Việt Nam cũng sẽ phải có cả những giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Bây giờ chúng ta xây dựng hệ giá trị Việt Nam thì tất yếu phải xây dựng cả các giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần. Liệu những nhà nghiên cứu đã cho rằng 5 hoặc 7 đặc tính của con người Việt Nam, được Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam đề xuất xây dựng là những giá trị, thì chúng có hình thái vật chất thế nào? Có lẽ lại phải xem xét lại cách hiểu khái niệm vật chất trong trường hợp này. Nếu không, việc phác thảo hệ giá trị Việt Nam cũng như xác lập các tiêu chí xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay sẽ không thể thực hiện được.

Hệ giá trị Việt Nam như đã nói, dù chúng ta chưa thể lập ra bảng giá trị rõ ràng, đầy đủ, chưa thống nhất số lượng, vị trí, thang bậc các giá trị trong đó, nhưng từ lâu nó vẫn tồn tại, tác động và chi phối sự phát triển của xã hội. Hệ giá trị luôn hiện hữu để định hướng, chi phối hành vi, hoạt động của các chủ thể xã hội, dù mức độ định hướng, chi phối đó là khác nhau ở các chủ thể khác nhau. Nếu như hệ giá trị con người và hệ giá trị nói chung có vai trò đặc biệt trong sự phát triển con người, xã hội và cộng đồng dân tộc - quốc gia (vì thế mà văn kiện Đảng từ năm 1998 - được dẫn ở trên, đã nêu và nhấn mạnh việc xây dựng con người với 5 đức tính và phát huy các giá trị Việt Nam và Văn kiện Hội nghị TW 9 khóa XI năm 2014 vừa rồi cũng nêu các đức tính con người và giá trị Việt Nam nói chung, các văn kiện Đảng khác cũng nhấn mạnh ở các góc độ khác nhau) thì sự phát triển của con người, xã hội sẽ củng cố thêm vai trò của các giá trị đã có, bổ sung thêm các giá trị mới hoặc loại bỏ các giá trị không còn ý nghĩa vào bảng hệ giá trị.

Nếu bảng hệ giá trị rối loạn thì xã hội đương nhiên là bất ổn, rối ren. Nhưng ở đây có hai phương diện khác nhau. Thứ nhất, sự rối loạn đó có thể phản ánh xã hội đang chuyển đổi sang giai đoạn phát triển mới. Quá trình chuyển đổi đó tạo nên những điều kiện và tiền đề cho việc loại bỏ các giá trị đã lỗi thời, làm xuất hiện các giá trị mới mà thường gắn với các tầng lớp, bộ phận dân cư mới xuất hiện. Sự xung đột giữa các giá trị cũ sắp bị loại bỏ hoặc loại bỏ từng phần với các giá trị mới khiến cho xã hội mất định hướng giá trị; các hành vi, hoạt động của những con người, bộ phận dân cư khác nhau sẽ được đánh giá khác nhau. Tình hình đó thậm chí dẫn đến sự xung đột trong định hướng, đánh giá và niềm tin, tạo nên rối loạn xã hội. Những thang bậc đúng, sai, tốt, xấu, có lợi, có hại,… đối với cộng đồng, cá nhân, có thể bị đảo lộn; xã hội hoặc một bộ phân dân cư nào đó, trong những trường hợp cụ thể, có thể sẽ bị mất phương hướng. Trong những thời đoạn như vậy, vai trò của tầng lớp elite của xã hội, của truyền thông là rất quan trọng. Nếu họ không đảm đương được trách nhiệm định hướng dư luận, củng cố niềm tin giá trị và nhanh chóng điều chỉnh định hướng phù hợp với xu thế phát triển thì xã hội sẽ rối ren hơn, thời gian kéo dài hơn.

3) Cho đến nay, trong các tài liệu, các diễn đàn, việc xác định hệ giá trị Việt Nam chưa được đặt vấn đề một cách chính thức, cũng chưa được nghiên cứu thành những đề tài độc lập. Việc phác thảo bản hệ giá trị Việt Nam là việc làm cần thiết. Cần phải dựa trên những nguyên tắc phương pháp luận xác định để tạo nên bản phác thảo hệ giá trị. Do vậy, trước hết cần phải thảo luận rộng rãi các nguyên tắc phương pháp luận xác định hệ giá trị trong giới chuyên môn, trong các học giả, các nhà hoạt động và quản lý xã hội, các nhà văn hóa. Nhưng đó mới chỉ là bước đầu, việc phác thảo bản hệ giá trị nên tập trung vào các giá trị cốt lõi với số lượng xác định và phải có thời gian để thảo luận về từng giá trị. Tiếp đến, trên cơ sở các thảo luận đó mới có thể đề xuất bản phác thảo hệ giá trị lần thứ hai rồi tiếp tục hoàn thiện để có bản hệ giá trị Việt Nam chính thức. Có lẽ phải bằng cách đó mới có thể xác định được hệ giá trị Việt Nam hiện nay.

Một số học giả, nhà nghiên cứu như Đào Duy Anh[6], Trần Văn Giàu[7], và một số học giả khác[8],… thậm chí cả một vài người nước ngoài đã nêu lên một số nhận định về xã hội, con người Việt Nam mà họ xem đó là những giá trị Việt. Nhưng nếu xem xét kỹ lưỡng thì thấy đúng ra đó mới chỉ là những đặc tính nào đó của con người và xã hội Việt Nam ở một giai đoạn lịch sử nào đó chứ chưa phải toàn bộ những nội dung mà họ nêu đều đã là những giá trị Việt. Một số tài liệu khác cũng đã xác định các đức tính hoặc tiêu chí xây dựng con người Việt Nam[9], nhưng đó không phải là bảng hệ giá trị con người Việt Nam dù trong nội dung có thể hiện các giá trị đó. Có những điểm đúng là giá trị Việt và giá trị con người Việt cốt lõi như tinh thần yêu nước, anh hùng, vị nghĩa. Nhưng điều quan trọng là phải xác định tính đặc thù của tinh thần yêu nước, anh hùng, vị nghĩa của Việt Nam và của con người Việt Nam. Các ý kiến đó (cả trong nước lẫn nước ngoài) cần được phân tích và tham khảo để xây dựng bảng hệ giá trị Việt Nam hiện nay và phân định bảng hệ giá trị Việt Nam với bảng hệ giá trị con người Việt Nam.

4) Chúng ta đang sống trong thời kỳ của những biến động dữ dội trên phạm vi toàn cầu. Những biến động ấy rất khác nhau và do nhiều yếu tố khác nhau gây nên. Nó cũng được các thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, của toàn cầu hóa tạo ra, nhân lên, truyền tải nhanh chóng và gia tăng sức mạnh tác động đến từng quốc gia, xã hội, cộng đồng và mỗi cá nhân theo những phương thức và mức độ khác nhau. Đất nước ta cũng đang và sẽ tiếp tục có nhiều biến động. Có nhiều biến động do chúng ta chủ động tạo ra để phát triển, có những biến động ngoài ý muốn của chúng ta, có những biến động nảy sinh trong nước, nhưng cũng có những biến động từ bên ngoài đưa đến.

Xã hội Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Ngoài ra cũng còn phải nói đến một số chuyển đổi khác mà các nhà nghiên cứu còn có những ý kiến khác biệt như chuyển đổi từ xã hội phong kiến thuộc địa sang xã hội quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ trạng thái chiến tranh sang hòa bình, ổn định, từ xã hội thần dân sang xã hội dân sự,… Song trùng với các quá trình chuyển đổi đó, những tác động của toàn cầu hóa, của cách mạng khoa học và công nghệ, của hội nhập quốc tế, của xu hướng hình thành kinh tế tri thức, của giao lưu văn hóa, sự phát triển của mạng Internet và truyền thông số,… cũng có ảnh hưởng không hề nhỏ đến bảng hệ giá trị Việt Nam. Đáng tiếc là cho đến nay, chúng ta cũng vẫn chưa có được những công trình tập trung phân tích những tác động này. Tổng hợp quá trình đa chuyển đổi và nhiều tác động như vậy trong thực tế đang làm cho hệ giá trị Việt Nam có những biến động dữ dội, đến mức mà trong lĩnh vực văn hóa đã có những cảnh báo về nguy cơ khủng hoảng văn hóa (cũng là khủng hoảng giá trị văn hóa như một thành tố của hệ giá trị Việt Nam). Đáng tiếc chúng ta chưa xác định được bảng hệ giá trị Việt Nam và các bảng hệ giá trị bộ phận nên đương nhiên việc phân tích những tác động nói trên vào hệ giá trị chưa thể có được.

Xã hội đang chuyển đổi sâu sắc, toàn diện, với cường độ và tốc độ nhanh chóng khiến cho bảng hệ giá trị Việt Nam, một mặt, cũng chịu thách thức ghê gớm, mặt khác, cũng có cơ hội mà chưa khi nào có được trong lịch sử để chuyển đổi, hội nhập và phát triển mạnh mẽ. Sự biến động của hệ giá trị đang diễn ra dưới nhiều biểu hiện khác nhau: Có sự biến mất, triệt tiêu của các giá trị cũ vì khi điều kiện đã thay đổi, chúng không còn ý nghĩa đối với con người và xã hội (ví dụ: trung với vua); Có sự xuất hiện các giá trị mới (ví dụ: bình đẳng giới, nhân quyền); Có sự thay đổi thang bậc, vị thế của các giá trị (thí dụ: tinh thần quốc tế vô sản, tư duy sáng tạo); Có sự “đổi mới”, thay đổi từng phần nội dung các giá trị (ví dụ: giàu có, cần, kiệm); thu nhận và cải biến một số nội dung, giá trị bên ngoài (dân chủ, tự do ngôn luận);… Thậm chí, có sự xung đột giữa các giá trị (mới và cũ, bản địa và du nhập, chung và bộ phận,…), có sự tiếp thu, làm giàu thêm hệ giá trị bản địa và có cả sự mở rộng tầm ảnh hưởng của nó ra khỏi phạm vi dân tộc - quốc gia. Những biến động như vậy của hệ giá trị Việt Nam đang diễn ra có ảnh hưởng đến mọi thành phần xã hội, đến mỗi con người. Biến động của hệ giá trị hiện nay là một tất yếu của sự phát triển xã hội. Điều đáng nói là dù biến động mạnh nhưng các giá trị cốt lõi của dân tộc - quốc gia vẫn phát huy vai trò định hướng, đánh giá và chuẩn mực của mình và tiếp tục được bổ sung, phát triển.

Tuy vậy, cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng: Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, hệ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc có nhiều biến đổi cả trong nhận thức và cả trong thực tế do sự tác động từ nhiều phía. Do đó có phần nào rối loạn, không biết đâu là những giá trị văn hóa đích thực hay những giá trị giả. Từ đó dễ nảy sinh hiện tượng sùng ngoại, hoặc sùng cổ, coi cái gì của mình cũng tốt. Chính vì thế mà vấn đề hàng đầu hiện nay là đưa ra được tiêu chí xác định hệ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tiêu chí đánh giá tinh hoa văn hóa nhân loại[10]. Ý kiến này dù nói về hệ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc nhưng cũng đúng với bảng hệ giá trị Việt Nam nói chung và rất đáng được chú ý khi thực hiện ý tưởng xây dựng hệ giá trị Việt Nam.

Hiện nay, đã có những ý kiến khác nhau về bảng hệ giá trị văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống, hệ giá trị con người, đức tính con người, bản sắc Việt,… Qua nghiên cứu và khảo sát chúng tôi thấy, mặc dù các ý kiến còn khác nhau, vấn đề bảng hệ giá trị Việt Nam còn ít được bàn trực tiếp, trực diện và chuyên sâu, nhưng cũng đã có sự tương đồng về một số nội dung, một vài giá trị được xem là giá trị chung, cốt lõi của xã hội và con người Việt Nam như tinh thần yêu nước, lòng nhân nghĩa. Ở đây, trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát riêng, chúng tôi tạm nêu lên bảng 10 giá trị Việt sau đây góp phần thảo luận về việc xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đó là: 1) Tinh thần yêu nước Việt Nam; 2) Tinh thần nhân ái; 3) Anh hùng, dũng cảm; 4) Biết chấp nhận (nhẫn), tiếp thu; 5) Hiếu học; 6) Sáng tạo; 7) Cần cù; 8) Lạc quan; 9) Trọng đạo lý; 10) Ưa ổn định. Dù có những biến động nhưng các giá trị này không thể biến mất mà đang được tiếp tục củng cố, có những hình thức biểu hiện mới với những mức độ khác nhau.

Tài liệu tham khảo

1. Đại Bách khoa toàn thư Xô viết (Tiếng Nga, 30 tập).

2. Từ điển Bách khoa triết học mới (2001) (Tiếng Nga, 4 tập).

3. Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học, Nxb. Dân trí.

4. Từ điển Wilkipedia, tháng 12/2014.

5. Từ điển http://www.Oxforddictionaries.com/value, truy cập tháng 12/2014.

6. Từ điển http://www.thefreedictionary.com/value, truy cập tháng 12/2014.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

8. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương (1938, in lại 1998).

9. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam.

10.http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/mot-goc-nhin-tong-ve-ca-tinh-viet.html, ngày 3 Jan 2014; Claude Falazzoli (Italia, 1981), Việt Nam giữa hai huyền thoại.

11. Nghị quyết Hội nghị TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 5 khóa 8 năm 1998.

12. Lương Đình Hải (2009), “Những tiêu chí cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, Số 10 và 11.

13. Dương Phú Hiệp, “Bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt”, http://tonvinhvanhoadoc.vn, ngày 12/12/2014.

Chú thích
[1] Ví dụ xem: Đại Bách khoa toàn thư Xô viết (Tiếng Nga, 30 tập); Từ điển Bách khoa triết học mới, (Tiếng Nga, 4 tập), 2001; Phạm Minh Hạc, Giá trị học, Nxb. Dân trí, 2012; Từ điển Wilkipedia, tháng 12/2014; Từ điển http://www.Oxforddictionaries.com/value, truy cập tháng 12/2014; hoặc Từ điển http://www.thefreedictionary.com/value, truy cập tháng 12/2014.
[2] Vàng đã tồn tại từ lâu, nhưng với người nguyên thủy, vàng không có giá trị như với con người sau này; “Một miếng khi đói bằng một gói khi no” là ví dụ cho thấy giá trị thay đổi tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
[3] Xem Phạm Minh Hạc, Sđd, Tr. 46.
[4] Trong thực tế, tác giả bài viết đã cố tìm tài liệu để xem có nước nào đã xác lập được bảng giá trị xã hội hay giá trị con người của quốc gia mình chưa, nhưng chưa thấy có. Singapo mới chỉ nêu 5 giá trị có thể xem như là những giá trị cốt lõi; Tổng thống Barack Obama đã nói đến các giá trị Mỹ và kêu gọi đưa các giá trị đó vào các nước khác và bảo vệ chúng, nhưng đó không hẳn hoàn toàn là giá trị Mỹ, bảng giá trị Mỹ cũng không chỉ có các giá trị như vậy.
[5] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
[6] Xem: Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương (1938, in lại 1998) với 7 giá trị như là bản sắc văn hóa Việt: 1) “Sức ký ức” [trí nhớ] tốt, thiên về nghệ thuật và trực giác; 2) Ham học, thích văn chương; 3) “Ít mộng tưởng” [thiết thực]; 4) “Sức làm việc khó nhọc” [cần cù] ở mức độ “ít dân tộc bì kịp”; 5) “Giỏi chịu… khổ và hay nhẫn nhục”; 6) “Chuộng hòa bình, song ngộ sự thì cũng biết hy sinh vì đại nghĩa”; 7) Khả năng “bắt chước, thích ứng và dung hòa rất tài”.
[7] Xem: Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam (1980), với 7 giá trị của văn hóa Việt: 1) Yêu nước; 2) cần cù; 3) anh hùng; 4) sáng tạo; 5) lạc quan; 6) thương người; 7) vì nghĩa.
[8] Xem: http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/mot-goc-nhin-tong-ve-ca-tinh-viet.html  ngày 3 Jan 2014; Claude Falazzoli (Italia, 1981), Việt Nam giữa hai huyền thoại cho rằng người Việt có 7 giá trị: 1) Ý thức “giữ phẩm giá, không chịu để mất nó trong bất cứ thử thách nào”; 2) “Nết cần cù có thể lấp biển”; 3) “Lịch thiệp, tế nhị… khiến cho không khí ở đây không thô lỗ và nặng nề”; 4) “Một sự tinh tế cố tình chẻ sợi tóc làm tư”; 5) “Tính dè dặt, kéo dài sự cân nhắc, xét đoán, quyết định”; 6) “Tính thực dụng… khả năng thích ứng khéo léo và sáng suốt với mọi tình huống”; 7) “Đặc biệt lãng mạn và đa cảm”.
[9] Ví dụ xem: Nghị quyết Hội nghị TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 5 khóa 8 năm 1998 với 5 đức tính như là 5 tiêu chí xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Lương Đình Hải (2009), “Những tiêu chí cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, Số 10 và 11.
[10] Xem Dương Phú Hiệp, “Bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt”, http://tonvinhvanhoadoc.vn, ngày 12/12/2014.
Nguồn: tạp chí Nghiên cứu Con người (2015), số 1 (76), trang 8-17.
Bổ sung tư liệu
Đánh giá bài viết?