TS. Dương Quốc Quân
Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể ở nước ta hiện nay
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Kế toán, số 05/2016

Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986-2016), cùng với các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã đã có bước phát triển tích cực. Hầu hết các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã được đổi mới về tổ chức, hình thức hoạt động, ngày càng phù hợp hơn với cơ chế thị trường và theo Luật hợp tác xã. Tuy vẫn còn một số hợp tác xã chưa dứt hẳn tư tưởng và cách làm kiểu cũ, song đa phần hợp tác xã đã bước đầu cho thấy rõ nét hơn vai trò kinh tế ở nước ta trong bối cảnh đất nước còn đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khung khổ pháp lý chưa hoàn thiện, hệ thống thể chế thị trường chưa phát triển, chính sách nhà nước còn đang trong quá trình điều chỉnh phù hợp, v.v. Vai trò xã hội - văn hóa của kinh tế tập thể ngày càng quan trọng hơn, phát huy tinh thần "hợp tác", góp phần phát triển đời sống văn hóa và tăng cường tinh thần đoàn kết cộng đồng, hiện thực hóa các giá trị đạo đức cao đẹp và nguyên tắc dân chủ, bình đẳng; góp phần tăng thu nhập và tạo việc làm cho thành viên và người lao động, cung cấp dịch vụ xã hội. 

Bên cạnh những thành tựu đạt được trên đây, khu vực kinh tế tập thể cũng còn nhiều tồn tại: Số hợp tác xã mới thành lập chưa nhiều, số lượng hợp tác xã hoạt động có hiệu quả cao còn hạn chế; Hợp tác xã phát triển chưa đều ở các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế; Thu nhập của người lao động thường xuyên trong hợp tác xã còn thấp; Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt hợp tác xã còn hạn chế; Vốn của hợp tác xã ít; Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tập thể chậm, hiệu quả hoạt động chưa cao. Các hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân chủ yếu sau: Lý luận và nhận thức về hợp tác xã tuy đã được phát triển một bước cơ bản so với giai đoạn trước khi có Luật hợp tác xã năm 1996 nhưng vẫn còn chưa đủ rõ; Khung khổ pháp luật, chính sách về hợp tác xã nói riêng và khu vực kinh tế tập thể nói chung còn nhiều bất cập; Công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng, các chính sách của Nhà nước chưa kịp thời, kiên quyết và đồng bộ, nhất là ở cấp địa phương; Năng lực của tổ chức hợp tác xã còn yếu, trong đó có năng lực quản trị và khả năng tài chính, công nghệ, kỹ thuật; Tâm lý xã hội nói chung còn e ngại đối với tổ chức hợp tác xã. 




Để sớm củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, nhằm đưa kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, theo chúng tôi khu vực kinh tế tập thể cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: 

Thứ nhất, phải xác định đúng vai trò, vị trí của kinh tế tập thể, đặc biệt chú trọng đáp ứng lợi ích thiết thực của thành viên; Thứ hai, đổi mới, phát triển hợp tác xã đúng bản chất, nguyên tắc và chú trọng hiệu quả, không chạy theo hình thức; Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong các hợp tác xã; Thứ tư, đảm bảo tính thống nhất, rõ ràng trong việc hướng dẫn và thực thi các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với khu vực hợp tác xã; Thứ năm, nâng cao tính linh hoạt, sáng tạo trong việc học tập và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam./.

 TS. Hồ Bá Thâm 
Tạp chí Thông tin khoa học xã hội (3/2006)

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, không chỉ sáng lập ra chủ nghĩa, triết thuyết của mình mà còn đưa ra mẫu mực phương pháp luận về sự tự phê phán và phát triển chủ nghĩa Mác. Đó là kim chỉ nam cho các thế hệ tiếp bước theo các ông. Nhưng đó là việc không dễ dàng tí nào, thậm chí phải trả giá đắt như lịch sử không ít lần đã chỉ rõ, xét cả mặt áp dụng sáng tạo trong thực tế và cả mặt học thuật, phát triển lý thuyết.

Do vậy, ngày nay, hơn bao giờ hết, thấm nhuần tinh thần và bài học đó, phải xây dựng phương pháp tư duy học thuật, tư duy phát triển lý luận và chống bệnh tự ti, từ đó góp phần nghiên cứu phát triển triết học Mác trong thời đại ngày nay, từ đó tạo tầm nhìn sâu rộng cho quá trình xây dựng xã hôi ngày càng hiện đại, thịnh vượng, công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa.

I- Thái độ tự phê phán của Ăngghen đối với chủ nghĩa Mác

F.Angghen (F.Engels) là một trong những nhà sáng lập đầu tiên của chủ nghĩa Mác, một nhà duy vật biện chứng- duy vật thực tiễn lỗi lạc. Là người bạn tâm giao, gần gũi và đồng hành cùng với C Mác (K.Marx) trong sự nghiệp sáng tạo chủ nghĩa Mác và lãnh đạo phong trào công nhân giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ ấy, cả sau khi Mác đã qua đời. Có lẽ không ai hiểu Mác bằng Angghen, và về nhân cách, tài năng thì một chín một muời, nhưng lại hết sức khiêm tốn. Khi Mác qua đời thì chính Ăngghen đã đánh giá cao những phát hiện, phát minh chủ yếu của Mác, rồi tiếp tục hoàn chỉnh tác phẩm (bộ Tư bản) của Mác còn dang dở, đánh giá việc vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác trong thực tiễn cách mạng mới với tinh thần khoa học và tính tự phê phán và phê phán với tính chiến đấu rất cao.

Như ta đã biết với tác phẩm "Tình cảnh giai cấp công nhân Anh", thì thế giới quan mới đã xuất hiện và sự đồng cảm trong sáng tạo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân giữa Mác và Ăngghen đã gặp nhau. Nhưng sau khi khởi thảo "quan niệm duy vật về lịch sử" (Angnghen gọi là "chủ nghĩa duy vật lịch sử"-Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 719), thì Mác đi sâu vào nghiên cứu kinh tế chính trị, còn Ang nghen thì tập trung hoàn chỉnh và phát triển triết học Mác trong khoa học tự nhiên và lịch sử xã hội, và phát triển những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhiều tư tưởng triết học của Mác đã được Angghen làm rõ và phát triển.

Đồng thời, qua một số công trình nghiên cứu, ông cũng làm rõ những vấn đề có tính quy luật phát triển của triết học: Chúng ta có thể hệ thống hóa lại như sau:

Một là, mỗi lần có một bước ngoặt trong khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật sẽ thay đổi hình thức của mình.

Hai là, đồng thời, chính thực tiễn cách mạng là động lực của lý luận đã điều chỉnh và kiểm nghiệm lý luận, cũng như gợi mở những kết luận mới, những học thuyết mới.

Ba là, rằng không nghiên cứu lịch sử triết học thì không tiến lên được ở đỉnh cao của tư duy lý luận.

Bốn là, thông qua cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận, thông qua luận chiến thì khoa học lý luận sẽ sinh động, tinh tế hơn các góc cạnh của nó và tiếp tục tiến lên phía trước.

Năm là, bản thân các nhà cách mạng cũng phải tự phê phán, tự đổi mới mình (trước hết về tư tưởng, lý luận, nhận thức) mới tiến lên được.

Sau đây, chỉ xin phân tích vài vấn đề góp phần sáng tỏ thêm vấn đề ấy từ một góc nhìn khác, góc nhìn tự phê phán, thể hiện rõ một phép biện chứng sinh động, một thái độ cách mạng đúng đắn, một tư duy biện chứng có tính chiến đấu và tự phê phán cao.

Phê phán và tự phê phán bệnh tuyệt đối hóa, bệnh giáo điều, bệnh xuyên tạc tinh thần biện chứng đối với chủ nghĩa Mác.

Angghen nghiên cứu biện chứng về tự nhiên, biện chứng về lịch sử, khái quát những tinh hoa của triết học nhân loại, nhất là tinh thần phép biện chứng của triết học Hê ghen. Ông đã phê phán tư duy siêu hình, phản biện chứng của của một số nhà tư tưởng tư sản, nhất là Đuyrinh đối với phép biện chứng duy vật của Mác. Nhân cuộc luận chiến này, ông đã khái quát, hệ thống hó những tư tưởng chủ yếu của ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. Tinh thần luận chiến là một đặc điểm của chủ nghĩa Mác. Gần đây với tác phẩm Triết học mở, xã hội mở, tác giả Maurice Cornforth của cuốn sách này phê phán chủ nghĩa Pôppơ cũng theo tinh thần đó .

Nhưng đặc biệt là nhà duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, nhà cách mạng kiên định- Ang ghen đã phê phán sự hiểu lầm chủ nghĩa Mác của một số trí thức trẻ và cả những người xã hội chủ nghĩa đương thời: trên một số phương diện.

- Trong xã hội sự phát triển là sự tác động lẫn nhau của nhiều nhân tố, xét đến cùng nhân tố kinh tế là quyết định. Nhưng hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là nguyên nhân duy nhất chủ động (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 778) Không thể quy sự biến diễn ra hàng ngày, sự biến riêng lẻ vào nguyên nhân kinh tế xét tới cùng được (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 594). Thế nhưng khi tiếp cận chủ nghĩa Mác thì nhiều người chỉ thấy có nhân tố kinh tế là duy nhất quyết định, tức là không thấy sự tương tác giữa nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trong tiến trình phát triển…

- Angghen viết, và tâm sự rằng, "Cả Mác lẫn tôi chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế, do đó nếu ai xuyên tạc câu đó khiến cho nó có nghĩa là nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất thì như vậy đã biến câu đó thành một câu trống rỗng, vô nghĩa" (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.726). Ở đây, vấn đề là tính tương tác, biện chứng thì người ta lại quên đi.

- Do phải phê phán lại kẻ thù là chủ nghĩa duy tâm đủ loại, các ông đã quá nhấn mạnh nhân tố kinh tế làm cho giới trẻ vận dụng tuyệt đối hóa nhân tố kinh tế, thành "duy vật kinh tế". Và khi quá nhấn mạnh một mặt thì dù đúng cũng sẽ trở nên phiến diện và sai lầm…. Tuy rằng, khi các nhà kinh điển phân tích thưc tế thì lại rất toàn diện, biện chứng, thấy rõ sự tương tác lẫn nhau của nhiều nhân tố. Chính Angghen rất nhấn mạnh điều then chốt này (qua tác phẩm bộ Tư bản và nhiều tác phẩm khác của Mác).

- Nhưng dầu sao thì sai lầm ở những người đọc Mác, một phần cũng do hoàn cảnh lúc đó. Trách nhiệm này thuộc về Mác và Ăngghen như các ông thừa nhận. (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.728)

"Mác và tôi, một phần nào, phải chịu trách nhiệm về việc những anh em trẻ đôi khi nhấn mạnh quá mức vào mặt kinh tế. Đối với kẻ thù, chúng tôi phải nhấn mạnh nguyên lý chủ yếu mà họ phủ nhận, và chúng tôi cũng ít khi có thì giờ, có địa điểm và cơ hội để mang lại một vị trí xứng đáng cho những nhân tố khác tham gia vào sự tác động qua lại ấy. Nhưng khi phải trình bày một thời kỳ lịch sử, nghĩa là khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì vấn đề lại khác hẳn và ở đây không thể có một sai lầm nào. Nhưng đáng tiếc là người ta thường hay nghĩ rằng, có thể hiểu hoàn toàn thấu đáo một lý luận mới và có thể vận dụng lý luận đó không khó khăn gì, một khi đã nắm được những nguyên tắc chủ yếu, và điều đó không phải bao giờ cũng đúng. Và tôi không thể không trách cứ nhiều người "mácxít" mới về điều đó, và cũng phải nói rằng họ đã phạm phải những điều hết sức kỳ quái"(Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 729).

Tương tự như vậy về sau, không ít người, bên cạnh tuyệt đối hóa nhân tố kinh tế, coi nhẹ vai trò văn hóa; hoặc tuyệt đối hóa nhân tố giai cấp, nhân tố chính trị và thực tế đã dẫn tới sai lầm tả khuynh về tư tưởng, siêu hình về phương pháp,… Sai lầm này tất nhiên còn do tâm lý nông dân, tiểu tư sản, hay tâm lý quan lại mang tính gia trưởng.

Các nhà kinh điển đã nhấn mạnh việc vận dụng và phát triển sáng tạo nhưng trên thực tế chủ nghĩa giáo điều vẫn diễn ra ở các thế hệ mác xít và có lúc chi phối khá nặng, nhất là trên lĩnh vực cải tạo xã hội và xây dựng xã hội mới…

Thừa nhận ảo tưởng và sai lầm về tổng công kích và sự thắng lợi nhanh chóng của cách mạng vô sản như thế nào

Đến cuối đời, Angghen tự thấy rằng, các ông trước đây nhận định cách mạng vô sản thế giới sớm nổ ra là sai lầm. Do lạc quan quá, và do nhận thức về chủ nghĩa tư bản ở trình độ chín muồi chưa đúng ((Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.600-602).

Angghen, nhìn lại tình hình từ 1848 đến năm 1895, đã viết về bệnh ảo tưởng của những lãnh tụ và ngay bản thân các ông, về việc cách mạng vô sản nổ ra và thắng lợi, như sau:

- Khi cách mạng tháng 2- 1848 bùng nổ, rằng các ông đã bị ám ảnh, bị nhiễm những ký ức về mô hình của kinh nghiệm cách mạng Pháp 1789, 1830. về tính chất, tiến trình của cách mạng, về kiểu một trận quyết chiến duy nhất có thể giải quyết được vấn đề (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 559-600.). .

- Cuộc đấu tranh giai cấp năm 1948 và những năm sau đó, đã chứng tỏ rằng, không thể nào cải tạo xã hội bằng một cuộc đột kích được.

- Sự khôi phục đế chế năm 1851(hay cả 1871) ở Pháp, lại một lần nữa chứng tỏ rằng những nguyện vọng của giai cấp vô sản trong thời kỳ này chưa chính muồi (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 559-600, 605)

- Những tiên đoán cách mạng xã hội sắp nổ ra ở Anh là sai lầnm do nhiệt tình của tuổi trẻ của các ông hồi ấy (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr..537)

- Lại một lần nữa người ta có thể thấy rằng lúc đó (năm 1971 với cách mạng Công xã Paris) tức là 20 năm sau thời kỳ ấy, cho đến nay (năm 1895) vẫn chưa thực hiện được quyền thống trị của giai cấp công nhân (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.607).

- Lịch sử đã chứng minh rằng, Angghen thừa nhận, chúng tôi và tất cả những suy nghĩ như chúng tôi đều sai lầm. Lịch sử đã chỉ rõ rằng, trạng thái phát triển kinh t? liên lục địa lúc bấy giờ còn rất lâu mới chín muồi để xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.603,604).

- Lịch sử cũng đã chứng minh rằng, chúng tôi cũng sai lầm… lịch sử đã vạch ra rằng quan điểm của chúng tôi lúc bấy giờ là một ảo tưởng. Lịch sử không chỉ đánh tan những ảo tưởng của chúng tôi mà còn hoàn toàn đảo lộn những điều kiện trong đó gia cấp vô sản phải chiến đấu . (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 600) Ông thừa nhận rằng, nhiều vấn đề chưa thể nói trước được, phải tùy thời gian, không gian cụ thể. (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 748)

Rằng, phải chiến đấu lâu dài, phải tiến dần từng bước, và bằng nhiều phương thức khác nhau. Rằng, không thể nói trước được, phải tùy vào hoàn cảnh cụ thể (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 748-600), trong khi đó sau thất bại năm 1849, phái dân chủ vẫn còn ảo tưởng, điều mà Mác và Ang nghen đã dần nhận ra và khắc phục.
Chúng ta đọc lại những dòng trên đây và tự nhận thấy bệnh ảo tưởng này về cách mạng vô sản thế giới còn lặp lại sau năm 1945 ở phong trào cách mạng trong đầu, giữa thế kỷ XX ở những nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuất phát kinh tế xã hội còn thấp, nhất là ảo tưởng về xóa bỏ ngay chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, ảo tưởng về việc tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội, hoàn thành chủ nghĩa xã hội phát triển, tiến nhanh vào chủ nghĩa cộng sản giai đoạn cao… Chính Lênin, lúc đầu cũng bị ảo tưởng này, sau đó ông nhận thấy sai lầm và lùi lại thực hiện chiến lược NEP như chúng ta đã biết. Cố nhiên Trung Quốc, Việt Nam ta cũng không ngại lệ. Có điều là ngay nhiều nước loại này sau nhiều thập kỷ mới nhận ra và mới bắt đầu sửa.

Qua đó, cho thấy thêm rằng, không nên trình bày chủ nghĩa một chiều, chỉ thấy nguyên lý, chỉ thấy luôn luôn đúng, tách khỏi môi trường lịch sử đang vận động và thiếu tinh thần phên phán và tự phê. Đúng là, phân tích cụ thể tình hình cụ thể là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác (Lênin).

. Nhưng tại sao lại có tình trạng nhiều người vẫn hiểu sai chủ nghĩa Mác hay vận dụng một cách giáo điều?

Trả lời câu hỏi tại sao lại có tình trạng nhận thức sai về chủ nghĩa Mác từ những người cộng sản, không phải dễ. Nhưng có thể vạch ra một số nguyên nhân đại thể.

- Phần nhiều những người cộng sản ở các nước kinh tế và văn hóa, dân chủ chưa phát triển thì năng tư tưởng giáo điều, thiếu dân chủ, gia trưởng kiểu phong kiến, hiểu vấn đề lý luận ở tầm kinh nghiệm, mang tính ấu trĩ và tả khuynh kiểu chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản. Những người công sản ở các nước phát triển thì lại hay rơi vào tư tưởng dân chủ cải lương, ảo tưởng hòa bình chủ nghĩa.

- Nhận thức ở tầm tư duy, cảm tính, kinh nghiệm, phương pháp trực quan máy móc, thiếu tư duy duy lý và biện chứng chiều sâu của khoa học.

- Bị các tiềm thức văn hóa và tư tưởng lạc hậu trong truyền thống chi phối, từ đó tạo nên những khúc xạ cả về mặt tư tưởng lẫn nhận thức.

- Bị cố định bởi thái độ chính trị hay đường lối chính trị chính thống mà không phải khi nào cũng đúng lại nhân danh lập trường vững vàng, nhưng thực chất là gia trưởng, độc đoán, thiếu dân chủ.

- Thiếu một tri thức, một tầm nhìn xa rộng, không hiểu chiều sâu tinh hoa văn hóa nhân loại, và khoa học hiện đại và sự phát triển…

- Công thức hóa, chuẩn mực hóa, chính thống hóa các nguyên lý mác xít. Tư duy xơ cứng các mối quan hệ biện chứng và xa rời hiện thực, xa rời thực tiễn sinh động và văn hóa, lịch sử tiến hóa của nhân loại.

- Thiếu động cơ và thiếu tình cảm trong sáng trong việc vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác.


Vấn dề là ở chỗ nhiều thế hệ hiểu không đầy đủ, hiểu sai chủ nghĩa Mác chứ không phải về cơ bản chủ nghĩa Mác sai, dù rằng chủ nghĩa Mác cũng có hạn chế lịch sử do thời đại cụ thể mà trong đó các ông sống quy định và chưa thể biết tới thời đại cụ thể sau này có được. Mác không làm thấy bói, không làm nhà tiên tri. Mác là nhà khoa học, biện chứng, thực tiễn hiện thực.

Cho nên, dù có hạn chế đi nữa thì những nguyên lý cơ bản của triết học Mác và chủ nghĩa Mác vẫn có giá trị lâu dài, có sức sống mạnh liệt. Rằng, nhân loại sẽ không có tương lai nếu không có Mác, như một nhà triết hoc nổi tiếng ngoài mácxít ở Pháp thừa nhận. Gần đây qua cuôc thăm dò ở Anh có người nhiều nước tham dự chọn những nhà triết học vĩ đại của nhân loại thì được đánh giá Mác là "triết gia vĩ đại nhất của nhân loại", có "hệ thống triết học nghiêm túc nhất của loài người", trong số 20 người được bình chọn (theo Bản tin số tháng 8, năm 2005, của Hội đồng Lý luận TW, tr.6). Hoặc vào những năm cuối thế kỷ XX, trên thế giới, cũng đã lựa chọn Mác cùng với Anstanh và Frớt là một trong ba nhà khoa học, nhà tư tưởng vẫn còn ảnh hưởng to lới tới tiến trình thế kỷ XXI. Điều đó càng chứng tỏ uy tín của chủ nghĩa Mác mà hai phát minh vĩ đại của ông như Ăng ghen đã đánh giá, có ý nghĩa bất hủ.
Nhưng chúng ta, nhưng người theo chủ nghĩa Mác, tin tưởng vào chủ nghĩa Mác khoa học, sáng tạo, cách mạng, nhưng không nên tuyệt đối hóa, thần thánh hóa chủ nghĩa Mác, biến nó thành một tôn giáo!

Với tinh thần trên đây của Ăngghen, chúng ta thấy rằng, khó mà bác bỏ được một tinh thần tự phê phán mang tính cách mạng và khoa học như các nhà sáng lâo chủ nghĩa Mác. Vì vậy, tính chiến đấu, tự phê phán, tinh thần cách mạnh và khoa học ấy là bất diệt

ĐỌC TIẾP

Có thể nói, người đầu tiên nêu ra khuynh hướng cơ bản trong triết học và cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm chính là Platôn, mặc dù ông không quan tâm nghiên cứu, khảo sát các học thuyết triết học của các bậc tiền bối và cũng không có ý thức sử đụng các học thuyết ấy làm cơ sở để luận chứng trong các đối thoại và tranh luận của mình. Nhưng sự thực thì khi giảng bài, đàm luận, tranh luận... Platôn không thể không sử dụng những tài liệu lịch sử triết học. Tuy nhiên, sự vận động, phát triển tư duy triết học luôn tuân theo nhưng quy luật logic của nó và như thế, phải đến Arixtốt thì lịch sử triết học mới ra đời và có một vị thế nhất định. Arixtốt trở thành người đầu tiên tổng kết và hệ thống hóa tư tưởng triết học trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại theo nghĩa rộng của từ này, còn theo nghĩa hẹp, Anxtốt là người đầu tiên phân loại tri thức khoa học, mặc dù đó mới chỉ là ban đầu, còn rất sơ khai. Vượt lên những người đương thời, Arixtốt đã sử dụng phương pháp logic để điên đạt quan điểm của mình. Xét ở quan hệ này, có thể nói, Arixtốt là bậc tiền bối của Hêgen. Bởi vì, những điểm cơ bản trong quan điểm lịch sử triết học của Hêgen không phải là cái gì khác, mà chính là sự hoàn thiện những ý tưởng của Arixtốt đã phác thảo 23 thế kỷ trước đó. Lênin nhận xét: "Logic của Arixtốt là nhu cầu, là sự cố gắng tìm tòi, là sự đến gần với logic của Hêgen".


Nhằm hệ thống hóa và phân loại tri thức khoa nọc, Arixtốt đã thu thập một khối lượng lớn các tài liệu lịch sử triết học, kể cả tài liệu của chủ nghĩa duy vật và của chủ nghĩa duy tâm, đồng thời sử dụng phương pháp logic - lịch sử để tổng hợp và phân loại các tài liệu ấy. Công lao cửa Arixtốt không chỉ là tổng kết lịch sử triết học thời ấy, mà quan trọng hơn là tìm ra một phương pháp mới phương pháp thống nhất logic lịch sử trong nghiên cứu lịch sử triết học. Arixtốt không chỉ nghiên cứu những quy luật logic của tư duy con người, mà còn xác lập phong cách khoa học để xem xét các vấn đề triết học, phê phán những sai lầm trong học thuyết “con số" của Pitago, học thuyết “ý niệm" của Platôn, chống lại sự đồng nhất cái tồn tại và cái không tồn tại của Pắcmênít. Tên tuổi của Arixtốt gắn liền với việc nghiên cứu các hiện tượng và những sự kiện diễn ra ở những điểm khác nhau trong mối quan hệ với không gian và vận động như một quá trình tạo lập và huỷ diệt, sáng tạo và phá huỷ. Quan niệm của ông là đúng, bởi sự sinh thành, phát triển và diệt vong của vạn vật đều tuân theo quy luật khách quan, không ai có thể làm trái quy luật hoặc đi ngược lại lịch sử.

Chúng ta không thể đặt ra các điều kiện và đòi hỏi các bậc tiền bối phải giải quyết các vấn đề triết học của lịch sử thế này hay thế khác. Xét hoàn cảnh và trình độ nhận thức ở thời ấy thì những gì mà họ làm được thật đáng làm ta kinh ngạc và rất đáng trân trọng. Vấn đề là ở chỗ, họ là những người đi đầu trong việc tạo dựng và thiết lập nên những quan điểm lịch sử triết học đầu tiên, khai phá con đường mà sau này, các nhà triết học của nhiều thời đại đã đi trên con đường ấy.

Tính độc đáo và sâu sắc trong việc xác lập vị thế lịch sử triết học của Arixtốt được thể hiện ở các nguyên tắc: (1) Nguyên tắc quan hệ hữu cơ giữa bản thể luận và phương pháp nghiên cứu trên cơ sở của sự thống nhất giữa cái logic và cái lịch sử.(2) Nguyên tắc nhất nguyên trong xem xét, phê phán các học thuyết triết học. (3) Nguyên tắc kế thừa và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quan điểm, học thuyết triết học trong ]ịch sử triết học. Có thể tìm hiểu kỹ các nguyên tắc này trong phần I của "Siêu hình học" của Arixtốt, nhất là khi ông bình xét quan điểm triết học về cái tồn tại và cái không tồn tại của Pắcmênít và Kxênôphan. Tìm ra và sử dụng phương pháp logic - lịch sử để nghiên cứu lịch sử triết học, Arixtốt đã chỉ ra mối liên hệ giữa học thuyết triết học của Êmpêđốccơlơ và học thuyết của Anắcxagorơ. Theo Arixtốt, cả hai học thuyết này đều bắt nguồn từ học thuyết của Anắcnmanđơrơ và giữa chúng cũng có sự khác nhau trong việc giải quyết vấn đề khởi nguyên của thế giới.

Có thể nói, trên cơ sở phân tích các học thuyết khác nhau trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, Arixtốt đã hình thành nên phương pháp logic - lịch sử, từ đó đưa ra nguyên tắc nhất nguyên luận trong nghiên cứu lịch sử triết học. Nghiên cứu "Siêu hình học" của ông, chúng ta thấy ông coi lịch sử của tư tưởng triết học chính là lịch sử con người đi tìm chân lý. Theo ông, tìm chân lý trong một mối quan hệ là rất khó, nhưng trong nhiều mối quan hệ thì dễ hơn. Việc tìm chân lý trong lịch sử xã hội không thể dựa vào một vài sự kiện, mà cần phải có sự khảo sát công phu từ nhiều góc độ khác nhau với nhiều sự kiện khác nhau.

Arixtốt cho rằng, nếu không có sự kế thừa các học thuyết trước đó thì các khái niệm mới đưa ra, các học thuyết mới hình thành chỉ là những tập hợp ngôn từ trống rỗng, không có sức sống. Theo ông, những gì người đương thời có được đều không thể tách rời và xa lạ với tiền nhiệm. Trên cơ sở kế thừa tư duy lý luận và kinh nghiệm lịch sứ, chúng ta tồn tại và phát triển. Các thế hệ kế tiếp sau chỉ có thể bước qua và leo lên nhưng nấc thang mới cao hơn, tiến lên phía trước là nhờ nghiên cứu lịch sử triết học và tiếp thu, kế thừa những mặt tích cực ở những người đi trước.

Với sự nhạy cảm của trực giác, Anxtốt đã nêu ra sự cần thiết phải làm rõ sự khác biệt giữa các học thuyết triết học, tính quy định của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của nhà triết học đối với sự phát sinh, phát triển của mỗi học thuyết triết học. Có như vậy mới tìm ra được các khía cạnh khác nhau của sự phát triển lịch sử triết học, tìm ra mặt tiến bộ, tích cực để kế thừa, đồng thời lọc bỏ những hạn chế, không phù hợp, không có giá trị, không có ý nghĩa.

Tuy nhiên, sau khi Arixtốt qua đời, những người kế tục ông đã không làm được cái mà ông mong muốn. Phương pháp logic - lịch sử được các học trò của ông vận dụng, nhưng không đạt được trình độ mà bậc thầy của mình đã có. Trong thời kỳ Trung cổ, triết học phát triển rất chậm chạp. "Chủ nghĩa thầy tu đã giết chết cái gì là sống động ở Arixtốt và làm thành bất tử cái gì đã chết rồi". Những gì mà Arixtốt đã làm và chuẩn bị cho sự phát triển lịch sử triết học chỉ được thực hiện từ khi có triết học Phục hưng đến nay.

Những điều mà chúng tôi nêu trên chỉ là nhằm làm rõ cái điềm khởi đầu lịch sử triết học và coi Arixtốt là người đại diện cho điểm khởi đầu ấy với tư cách là người sáng lập ra môn học này, mặc dù đó chỉ là sự mở đầu với nội dung chưa thật rõ ràng và hình thức còn rất sơ khai. Toàn bộ sự vận động, phát triển của lịch sử triết học và những thành tựu mà nó đạt được sau này không thể tách rời điểm khởi đầu ấy. Có thể còn có nhiều cách tiếp cận và luận giải vấn đề này. Song, tên tuổi, sự nghiệp và những cống hiến của Arixtốt đối với sự hình thành và phát triển của lịch sử triết học đã được khẳng định.

Nguyễn Bá Dương
Tạp chí Triết học

Nguyễn Bá Dương
Tạp chí Triết học
Lịch sử triết học bắt đầu từ đâu? Ai là người sáng lập ra lịch sử triết học? Vấn đề này đã và đang thu hút tự quan tâm nghiên cứu và tranh luận của nhiều nhà triết học, đã có nhiều quan điểm, nhận định khác nhau về vấn đề này. V.Gátpi - nhà nghiên cứu lịch sử triết học cổ đại nổi tiếng, trong "Arixtốt - nhà lịch sử triết học" (xuất bản năm 1969 ở Kiép - Liên Xô) đã khẳng định Arixtốt ( 384-322 TCN) là nhà triết học lớn nhất, có bộ óc bách khoa của triết học Hy Lạp cổ đại, là người đầu tiên không chỉ đặt nền móng vững chắc cho lâu đài triết học, logic học và khoa học hiện đại, mà còn là người đầu tiên đặt nền móng cho lịch sử triết học. Nói cách khác, theo ông, bắt đầu từ Arixtốt, lịch sử triết học mới ra đời và phát triển.

V.Gátpi cho rằng, hơn các nhà triết học cùng thời, Arixtốt có bộ óc bách khoa, ông không những kế thừa được những tinh hoa tư tưởng triết học thời ấy, mà còn tổng kết, tìm ra những giá trị tiến bộ của tư tưởng văn hóa, triết học và nâng chúng lên tầm cao mới. Khác với các nhà triết học trước đó, Arixtốt không chỉ tổng kết, hệ thông hóa, phân loại các tài liệu lịch sử triết học, mà còn giải thích, làm rõ thêm nhiều luận điểm triết học của các bậc tiền bối. Gátpi đã phê phán quan điểm của nhà triết học Trônơnhítxa khi ông này cho rằng, dường như Arinxtốt đã "góp nhặt" các quan điểm trong những học thuyết triết học để "nhào nặn" thành quan điểm triết học của riêng mình, đã "vay mượn" ý tưởng của người khác để làm giàu tư tưởng triết học của mình. Bác bỏ quan niệm không đúng của Trônơnhítxa và dựa vào các quan điểm, học thuyết của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, Gátpi đã làm rõ ý nghĩa triết học và vai trò của Arixtốt và tư cách là người đầu tiên nghiên cứu lịch sử triết học và sáng lập ra môn học này.

Trong tác phẩm của mình, Gátpi không chỉ làm nổi bật học thuyết về vận động của Arixtốt, mà còn từ quan điểm vận động này biểu đạt ý tưởng về sự vận động tư tưởng trong lịch sử phát triển của nó. Gátpi đã chứng minh một cách thuyết phục vai trò và ý nghĩa triết học của học thuyết triết học Arixtốt và coi học thuyết này là khởi nguồn của sự phát triển tư tưởng lịch sứ triết học. Từ những đánh giá đó, Gátpi đã khẳng định Arixtốt là người mở đầu, là ông tổ của lịch sử triết học. Arixtốt xứng đáng được gọi như vậy, mặc dù còn có những hạn chế lịch sử nhất định, nhưng nếu không có ông, không có người đại điện cho những người mở đầu thì chúng ta không thể có lịch sử khoa học triết học ngày nay.

Vào nhưng năm 20 - 30 của thế kỷ XX, vấn đề khởi nguồn của lịch sử triết học và cuộc tranh luận Arixtốt có phải là người sáng lập ra lịch sử triết học đã trở thành một trong những đề tài sôi nổi trong giới triết học Liên Xô. Đanhenlia - nhà triết học Grudia nổi tiếng, trong tác phẩm "Arixtốt viết về các bậc tiền bối" (Nxb Tờbilixi, 1978), đã khẳng định: các tác phẩm của Arixtốt có một ý nghĩa quan trọng vì nó là minh chứng về nguồn gốc của lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại. Điều này là đúng, nhưng coi Arixtốt là người sáng lập ra lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại thì chúng ta chưa có đủ cơ sở để khẳng định điều đó. Tuy nhiên, Đanhenlia đã nghiên cứu rất công phu các tài liệu, tìm được phương pháp tiếp cận phù hợp để nghiên cứu và hiểu được ý đồ tổng kết lịch sử triết học của Arixtốt. Trong kết quả nghiên cứu của mình, ông đã đưa ra những kết luận xác đáng: (1) Arixtốt là người đã có công hệ thống hóa triết học trong thế giới cổ đại với một sự chính xác đến mức kinh ngạc, là người đã vạch ra cả cấu trúc logic của các quan điểm, các học thuyết triết học trước đó, đem lại sự tường minh cho các vấn đề phức tạp. (2) Arixtốt không chỉ là người đã có công tổng kết tư tưởng triết học, làm sống lại những tư tưởng của các bậc tiền bối, mà còn là người tổ chức, định hướng cho công tác nghiên cứu và phát triển triết học của những người kế tục ông. (3) Trong đi sản triết học của Arixtốt, không côn nghi ngờ gì nữa, đã có những tuyển tập các công trình, luận văn nghiên cứu về lịch sứ triết học. Chúng ta có thể tìm thấy nó trong các tác phẩm của Arixtốt và trong các tài liệu triết tiệc kể từ sau Arixtốt cho đến nay.


Qua nghiên cứu các tài liệu lịch sử triết học, chúng ta có thể thấy một điểm chung, khá thống nhất là về cơ bản, các nhà nghiên cứu triết học Arixtốt đều cho rằng, Arixtốt là người sáng lập lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, các tác phẩm của ông là nguồn gốc để nghiên cứu lịch sử triết học thời ấy. Arixtôt đả định nghĩa triết học là khoa học, đánh giá cao ý nghĩa và giải thích khá sâu sắc nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của triết học. Sự giải thích của ông về vấn đề này cho đến tận ngày nay, qua bao nhiêu thăng trầm của hàng chục thế kỷ, có nhiều luận điểm vẫn còn hợp lý, có giá trị thời sự. Hêgen và sau này là Mác, Ăngghen, Lênin đều đánh giá cao vai trò và ý nghĩa triết học của Arixtốt. Logic phát triển triết học của Cantơ, Hêgen, của Mác, Ăngghen và Lênin đều xuất phát từ các bậc tiền bối như Arixtốt. Về sự giống nhau của chủ nghĩa duy tâm nguyên thuỷ và chủ nghĩa duy tâm hiện đại, Lênin viết: "Cantơ, Hêgen, ý niệm về Thượng đế, chẳng phải là cũng cùng một loại đấy sao, cũng đều xuất phát từ Arixtôt" tác giả nhấn mạnh).

Tư những điều phân tích trên đây, Đanhenlia đã gián tiếp khẳng định lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại bắt đầu từ Arixtốt. Nhưng Arixtốt có phải là người đầu tiên sáng lập ra lịch sử triết học không? Đanhenhia không trả lời dứt khoát vấn đề này. Nhưng theo cách giải thích của ông thì đây là vấn đề hết sức nghiêm túc, đòi hỏi sự nghiên cứu công phu, thận trọng khi đánh giá đưa ra nhận xét, kết luận. Ông đặt ra việc cần thiết phải xây dựng những yêu cầu và tổ chức hội thảo khoa học để các nhà triết học bàn luận và đi đến thống nhất về việc nêu ra các tiêu chí đánh giá người sáng lập lịch sử triết học. Với quan điểm ấy, theo ông, thậm chí ngay cả Hêgen cung chưa có đầy đủ các tiêu chí để được gọi là người sáng lập ra lịch sử triết học.

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở Mátxcơva (Liên Xô), xuất hiện một công trình nghiên cứu có tiếng vang lớn của Lôxép: Lịch sử mỹ học cổ đại - Arixtôt và các tác phẩm kinh điển. Trong tác phẩm này, Lôxép khẳng định: Arixtốt là người sáng lập lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại. Những luận điểm xuất phát để ông khẳng định Arixtốt là nhà lịch sử triết học đầu tiên là dựa vào các khái niệm của lịch sử triết học. Từ việc phân tích, làm rõ các khái niệm triết học, ông phân chia ra các nguyên tắc cơ bản và các yếu tố cấu thành lịch sử triết học, tìm ra đối tượng và phương pháp nghiên cứu của nó. Theo Lôxép:

(1) Lịch sử triết học nghiên cứu sự phát triển có tính logic lịch sử của tư tưởng triết học.

(2) Sự thống nhất và tính lặp lại những vấn đề triết học là do vấn đề cơ bản của triết học quy định và do sự quy định cửa trình tự logic - lịch sử tư tưởng triết học.

(3) Sự phát triển tư tưởng triết học là lịch sử tìm tòi, phát hiện chân lý trong cuộc đấu tranh giữa các quan điểm đối lập. Đây là một quá trình phát triển biện chứng, được thực hiện theo nguyên tắc: lọc bỏ cái cũ, lỗi thời, giữ lại cái tiến bộ để kế thừa, phát triển. Những tiêu chí để gọi lịch sử triết học là một khoa học được hình thành trong quá trình phát triển lâu đài của bản thân nó và diễn ra với các điều kiện lịch sử rất khác nhau. Có thể nói rằng, sự bắt đầu lịch sử triết học có mối quan hệ chặt chẽ với việc phát hiện ra các yếu tố cấu thành của chính nó, với việc tổng kết, khái quát các học thuyết triết học trước đó, ngay cả ở hình thức đầu tiên, chưa phát triển, chưa hoàn thiện.

Những thành tựu đạt được một cách nghiêm túc, có ý nghĩa về mặt khoa học trong nghiên cứu lịch sử triết học gắn liền với tên tuổi của Hêgen. Chính Hêgen là người đầu tiên đem lại cho lịch sử triết học không chỉ một tên gọi với đúng nghĩa của nó, mà còn xác lập cho nó một vị thế nhất định trong khỏa học triết học. Kể từ ngày ấy sự tồn tại các tư tưởng trong lịch sử triết học, nhất là giai đoạn trước khoa học, trở thành một bộ phận không thể tách rời trong dòng chảy lịch sử triết học mà đỉnh cao là lịch sử triết học với tư cách một khoa học được Mác, Ăngghen sáng lập ra, sau này được Lênin phát triển. Như vậy, lịch sử triết học bắt đầu ở nơi mà trình độ tư duy trừu tượng, khái quát đã phát triển khá cao, việc tổng kết và hệ thống hóa các tri thức của loài người được thực hiện bằng phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa cái lịch sử và cái logic trên cơ sở nhất nguyên luận. Nhờ đó mà quan điểm, học thuyết mới ra đời, nó vừa là sản phẩm của quá trình tư duy của chủ thể, có sự kế thừa và phát triển các thành tựu của học thuyết triết học trước đó, vừa là sản phẩm của sự tổng kết, khái quát những kinh nghiệm của đời sống thực tiễn.

Rõ ràng, lịch sử triết học không phải là khoa học lịch sử, mà chính xác hơn là khoa học triết học, với một ý nghĩa xác định, nó là triết học về lịch sử khách quan. Cho nên, vấn đề phát sinh của môn khoa học này chỉ có thề xem xét và đặt nó trong giới hạn phát triển của triết học. Có như vậy, mới phân biệt rõ khía cạnh triết học lịch sử của lịch sử triết học, túc là lịch sử triết học với đúng nghĩa của từ này, còn sự mô tả đời sống và liệt kê các sự kiện thì khoa học lịch sử đảm nhận và phản ánh bằng những con đường riêng của nó.

Cho đến nay sự tìm kiếm điểm khởi đầu của quá trình phát sinh lịch sử triết học vẫn còn tiếp tục. Nhiều nhà triết học macxít đã coi Arixtốt là người mở đầu lịch sử tư duy triết học, là người đã giải phóng triệt để tư duy tiền khoa học, là người đầu tiên đã tổng kết, khái quát lịch sử tri thức nhân loại và đưa triết học phát triền lên tầm cao mới nhờ việc phê phán học thuyết về “con số" của Pitago, học thuyết về “ý niệm" của Platôn. Có lẽ là như vậy, và lịch sử triết học đã ra đời từ đó. Nét đặc biệt của thời đại Arixtốt chính là giai đoạn tổng kết và tích luỹ tri thức mà người cổ đại đã đạt được là giai đoạn mà sự vận động và tiến bộ xã hội diễn ra rất nhanh, trên nền tảng ấy triết học phát triển và đã đem lại một cách nhìn mới về thế giới trong một chỉnh thể thống nhất. Những hệ thống triết học như thế có thể tìm thấy ở triết học tự nhiên của Êmpêđốccđơ và hệ thống triết học của Pácmênít. Hơn thế nữa, chúng ta có thể tìm thấy sự sống động và tính đa dạng trong di sản triết học của Platôn, nơi mà mỗi sự kiện được ông miêu tả, nhận xét, đánh giá đều toát lên những khía cạnh của lịch sử triết học.

Powered by Blogger.