Đại biểu cuối cùng của chủ nghĩa thực dụng Mỹ - Dewey - để lại dấu ấn của mình trên các lĩnh vực sư phạm, đạo đức, thẩm mỹ, xã hội học và khoa học lịch sử. 

+ Phương pháp công cụ. Cuộc sống đặt con người vào tình huống có vấn đề, trạng thái hoài nghi mà lúc đầu chưa tìm ra lối thoát. Bị rơi vào tình huống ấy con người cần đến phương tiện của tư duy. Chức năng của tư duy là cải tạo tình huống chưa xác định thành tình huống xác định. Để thực hiện điều này con người tạo ra những ý tưởng, khái niệm, luật lệ khác nhau; chúng không có ý nghĩa nhận thức, mà chỉ có ý nghĩa “công cụ”, được sử dụng vì mục đích hữu dụng và tiện lợi. Khoa học - đó là một loại hộp đựng công cụ (khái niệm, học thuyết…) mà từ đó người ta lựa chọn những gì tiện lợi, có hiệu quả trong những điều kiện nhất định. 
Phương pháp công cụ gồm năm bước: 1) cảm nhận nan giải; 2) ý thức vấn đề; 3) dự thảo giải pháp (giả thiết); 4) khai mở ý tưởng về giải pháp đến những kết quả kinh nghiệm của nó; 5) quan sát và kiểm chứng giả thiết. Từ bước thứ hai trở đi đòi hỏi có sự tham gia tích cực của lý trí. Theo Dewey, phương pháp công cụ đòi hỏi một kinh nghiệm luôn mở rộng và sự nghiên cứu tự do, không bị ràng buộc bởi chủ nghĩa giáo điều. 

+ Phương pháp thử - sai. Sử dụng phương pháp này tỏ ra cần thiết và hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, đưa đến sự lựa chọn cách thức tiến hành hợp lý trong từng tình huống. Trong lĩnh vực đạo dức phương pháp thử - sai cũng phát huy tác dụng do tính tương đối của quá trình lựa chọn hành vi. Hành vi nào loại trừ tình huống có vấn đề, đưa tâm hồn về sự cân bằng, thư thái, thì được ủng hộ. 

Chủ nghĩa thực dụng thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội Mỹ trong vòng vài thập kỷ, Ảnh hưởng to lớn đến các nhà khoa học, các triết gia, các nhà hoạt động chính trị và xã hội. Nội dung tư tưởng của nó thâm nhập vào các nước châu Âu và một só nước châu Á. Cũng như chủ nghĩa hiện sinh, hiện nay chủ nghĩa thực dụng như một triết thuyết không còn tìm thấy nhũng tên tuổi lớn nữa, nhưng nó vẫn tồn tại dưới hình thức pha trộn và chiết trung. Yếu tố thực dụng, được hiểu theo nghĩa tích cực lẫn tiêu cực, vẫn còn thể hiện khá đậm nét trong đời sống mỗi cá nhân. 

Trong nỗ lực tìm kiếm hướng nghiên cứu mới trong triết học phương Tây hình thành trào lưu hậu cấu trúc - hậu hiện đại, được hiểu như sự thoát ly rõ rệt khỏi các môtíp quen thuộc về phương pháp luận. 

1. Tính chất liên thông của việc giải quyết các vấn đề cần nghiên cứu, góp phần mở rộng hơn nữa lĩnh vực quan tâm của chính triết học. Trong ngôn ngữ thể hiện quá trình này diễn ra khá rầm rộ. Phản tỉnh triết học tự giải phóng mình khỏi các phương thức và cách thức tiếp cận truyền thống, hướng đến nguyên tắc phương pháp luận chung của khoa học nhân văn. Người ta dễ nhận ra xu hướng này thông qua sự đan xen, gặp gỡ giữa triết học với sử học, ngôn ngữ học và chính trị học. 

2. Nguyên tắc giải thiết kế trong nghiên cứu bản văn; ý tưởng chủ đạo của nó là ở việc làm sáng tỏ mâu thuẫn bên trong của bản văn, ở việc tìm ra những “ẩn nghĩa” mà cả người đọc dễ dãi lẫn chính tác giả chưa hẳn phát hiện được. Nếu trong chú giải học luôn đòi hỏi một chương trình nghiên cứu tổng thể,thì ở đây sự hiện diện của chương trình chiếm một tỷ lệ khiêm tốn. Mục đích của chú giải học là hiểu bản văn và cung cấp phương pháp để hiểu bản văn; đối với chủ nghĩa giải thiết kế yếu tố đó không có ý nghĩa lớn. 

3. Phê phán mô hình giải thích duy lý. Chủ nghĩa hậu hiện đại tích cực đi theo hương phá chấp này. Chủ nghĩa cấu trúc truyền thống xác định nhiệm vụ của mình là tìm kiếm một số đồ thức giải thích sơ khởi, chẳng hạn có hiện diện trong ý thức nguyên thủy, nhưng hiện nay đã “đóng lại” đối với chúng ta bởi nền văn minh, và nhờ đó, lần theo dấu vết đó chúng ta có thể giải thích được các hiện tượng văn hóa đương đại. Chủ nghĩa hậu cấu trúc, ngược lại, thoát ly khỏi bất kỳ đồ thức giải thích ràng buộc nào. Thay vào đó là sự phóng khoáng tự do của tư duy, của ý tưởng. Do đó mà có sự trở lại với Heidegger, đối lập tư duy mang tính thi ca với tư duy khoa học. 

4. Thay đổi quyết liệt cách lý giải mối tương quan giữa ý thức đời thường và tư duy phản tỉnh (triết học, văn chương). Đối với triết học cổ điển ý thức đời thường là đối tượng của hoạt động khai mở trí tuệ. Giờ đây, trong điều kiện mới ý thức đời thường trở nên không chỉ đối tượng ngang bằng và nguồn gốc của những khám phá triết học, mà thậm chí còn chiếm vị trí quan trọng hơn. 

Thử điểm qua vài nét về chủ nghĩa hậu hiện đại(Post-modernism). Theo nghĩa sâu xa chủ nghĩa HHĐ là khuynh hướng “chống lại hiện đại”, ở bình diện triết học là “chống lại triết học hiện đại”. Hậu hiện đại nghĩa là sau hiện đại. Tuy nhiên khái niệm “hiện đại” không có một định nghĩa chung, nhất quán. Khởi điểm của “hiện đại” gắn với lúc thì chủ nghĩa duy lý cận đại, lúc thì phong trào Khai sáng với niềm tin vào tiến bộ và sự phát triển của khoa học, lúc thì đẩy sang nửa sau thế kỷ XIX, thậm chí muộn hơn - hai thập niên đầu thế kỷ XX. Mặc dù thuật ngữ “CNHHĐ” được sử dụng khá sớm, khoảng năm 1917, song phải đến cuối những năm 60 của thế kỷ XX nó mới trở nên phổ biến ở lĩnh vực kiến trúc, rồi lan sang các lĩnh vữc văn học, nghệ thuật, kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội. Những năm 80 CNHHĐ triết học thực sự khai sinh nhờ các công trình của J-F Lyotard (sinh năm 1924), người Pháp. Triết học của chủ nghĩa hậu hiện đại như một trường phái tương đối độc lập (như chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học …) không tồn tại, không chỉ vì thiếu sự thống nhất quan điểm giữa các nhà tư tưởng theo khuynh hướng này, mà vì trên thực tế thái độ phê phán đối với truyền thống cổ điển do CNHHĐ chủ trương không có gì mới lạ; nó chỉ đẩy sự phê phán sang một lĩnh vực khác, với lối trình bày đa dạng hơn. CNHHĐ bắtt đầu từ sự hoài nghi toàn diện vào khả năng của triết học như sự thống nhất thế giới quan và thể loại. Đúng ra, người ta đề cập không hẳn về triết học của CNHHĐ, mà về “tình huống của CNHHĐ” trong triết học, đối chiếu với “tình huống của CNHHĐ” trong văn hóa nói chung. Tình huống này có những thông số về bản thể luận, nhận thức luận, lịch sử - văn hóa và thẩm mỹ. Ở khía cạnh bản thể luận hiện tượng CNHHĐ gắn với đòi hỏi “tôn trọng” đối tượng, và cẢnh báo rằng trật tự sự vật sẽ trả thú chúng ta do việc cải biến nó qua những dự án nhân tạo. 

Sự chuyển đổi bản thể luận “hiện đại” (đề cao yếu tố cải biến, cải tạo từ “phi lý” sang “hợp lý”) chính là ở khía cạnh này. Bản thể luận hiện đại đã phát huy hết tác dụng của mình, cần được thay thế bằng bản thể luận theo phong cách mới (hậu hiện đại). Sự hoài nghi mô hình (lý luận) biến đổi thế giới một cách “chuẩn mực” kéo theo sự phản ứng đối với quan điểm hệ thống. Không nên quy tính chất chống -hệ thống (đặc trưng của CNHHĐ) về biểu hiện của chủ nghĩa hoài nghi hay chủ nghĩa hư vô, loại trừ khả năng nhận thức thực tiễn một cách toàn diện, đầy đủ. Những người theo khuynh hướng HHĐ mong muốn xác lập thứ “bản thể luận trí tuệ”phi cổ điển. Vấn đề là ở chỗ do những chuyển biến phức tạp trong thế giới mà chúng ta khó có thể ghi nhận hết sự hiện diện của các hệ thống quá chặt chẽ, tự khép kín, dù ở lĩnh vực kinh tế, chính trị hay nghệ thuật. Nhận thức được đổi thay này đưa đến sự hình thành tư duy phản biện bên ngoài khái niệm truyền thống (chủ thể- khách thể, toàn thể - bộ phận, bên trong - bên ngoài, hiện thực - tưởng tượng), thứ tư duy không mổ xẻ nh7ng4 tính toàn vẹn ổn định nào (phương Đông - phương Tây, chủ nghĩa tư bản - chủ nghĩa xã hội, nam - nữ). Sự ra đời của CNHHĐ còn xuất phát từ những thay đổi ở khía cạnh giá trị luận, trong đó có sự phê phán của triết học phi cổ điển (phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc) đối với hệ biến thái của triết học cổ điển. Kết quả là chủ thể như trung tâm của hệ thống đã bị sụp đổ. CNHHĐ cho rằng chủ nghĩa duy lý truyền thống trói buộc con người theo một hệ quy chiếu duy nhất và các khái niệm quá “cứng”. Kiểu triết học mới là triết lý không có chủ thể. Thay vào vị trí của các phạm trù như “chủ quan tính”, “ý hướng tính”, “phản tỉnh của ý thức”là dòng chảy bất tận” của ước muốn, những đột phá nhân cách hóa tự do (trong văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc v. v. . . ). Phương pháp giải thiết kế mở đường cho quá trình phá vỡ Siêu hình học truyền thống, đánh dấu kỷ nguyên sáng tạo theo môtíp mới. 

Một cách vắn tắt, có thể quy chủ nghĩa hậu hiện đại về khuynh hướng triết học ngôn ngữ (V. G. Kusnetsov. Triết học,1999,99), nhưng không phải là biểu hiện của chủ nghĩa thực chứng ngôn ngữ-lôgíc, mà vượt qua khuôn khổ của nó, dùng phương tiện ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ viết đa nghĩa, để phá vỡ những kết cấu, những phương án thiết kế bất biến của triết học cổ điển trong việc tìm hiểu, phát hiện, khai thác các yếu tố còn ẩn dấu trong hoạt động sáng tạo của con người, các linh4 vực của đời sống xã hội. Chủ nghĩa duy danh cổ điển, T. Hobbes chẳng hạn, tuyệt đối hóa ngônngữ, xem nó như cơ sở của nhà nước, của các quan hệ xã hội, còn chủ nghĩa hậu hiện đại quy ngôn ngữ về lĩnh vực cơ bản của tồn tại người

Giải thiết kế, hay phân giải ngônngữ (J. Derrida, M. Foucault), nhấn mạnh yếu tố thỏa mãn (R. Barth), hay làm gần đạo đức với thẩm mỹ, nâng sự thống nhất này lên cái cao cả (J-P. Lyotard). 

 Giới lý luận đôi khi xem CNHHĐ là thứ triết lý pha tạp, phá chấp, nhưng thiếu hẳn diện mạo bản thể luận. Mặc dù vậy trong mấy thập niên gần đây CNHHĐ quy tụ ngày càng nhiều những nhà hoạt động chính trị, xã hội, những người làm công việc sáng tạo văn hóa, nghệ thuật, các nhà nghiên cứu lý luận. Với cách đặt vấn đề mang tính cải tổ, CNHHĐ đang tạo được sức cuốn hút nhất định. 

Về vai trò của triết học hậu hiện đại Lưu Phóng Đồng viết:”Tuy triết học hiện đại phương Tây thay thế triết học cận đại là sự biến đổi quan trọng về phương thức tư duy triết học, đánh dấu triết học phương Tây đã phát triển đến một giai đoạn mới cao hơn, song nó cũng chứa đựng khuyết điểm và mâu thuẫn nghiêm trọng y như triết học cận đại…Để thoát khỏi cục diện ấy phải xét lại, phê phán, vượt qua các trường phái và lý luận trước đó, xây dựng một lý luận triết học mới…Sự xuất hiện chủ nghĩa hậu hiện đại ở mức độ nhất định đã đáp ứng nhu cầu xét lại sự phát triển của triết học phương Tây hiện đại và làm biết đổi nó. Các nhà triết học hậu hiện đại đều vạch ra và phê phán các khuyết điểm, mâu thuẫn trong lý luận của các nhà triết học phương Tây hiện đại, kể từ Nietzsche từ đi” 

Thời gian: 9h sáng ngày thứ Bảy, 29 tháng 8 năm 2015
Địa điểm: Phòng NZ407, lầu 4 Đại học Hoa Sen cơ sở 1
Địa chỉ: 08 Nguyễn Văn Tráng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Link đăng kí tham dự: https://goo.gl/iE1d8X
Mở cửa tự do, giữ xe dưới hầm


Diễn giả: Nhà báo TRẦN ĐỨC TÀI, 
Dịch giả PHẠM VIÊM PHƯƠNG

Đà Lạt được tạo dựng vào cuối thế kỷ 19 từ những dự định trái ngược và tranh chấp nhau: nó sẽ là một vườn ươm, một pháo đài chống bệnh tật, một trung tâm của quyền lực thực dân, một căn cứ quân sự, một đỉnh cao để từ đó thống lĩnh Đông Dương.

Các nhà qui hoạch thành phố này tìm cảm hứng ở nhiều nơi: tham khảo rất nhiều đến Petropolis ở Brazil, đến Baguio ở Philippines, đến Pháp và dãy Alps Thụy Sĩ, đến Côte d’Azur và đến những thị trấn đồi núi ở Hòa Lan mà lúc bấy giờ còn gọi là Hòa - Ấn (Netherland Indies). Nói cách khác, Đà Lạt hiện đại và hoàn cầu từ trong tinh chất. Vậy mà nó cũng là tỉnh lẻ: khu nghỉ dưỡng này nổi tiếng vì các phong cách vùng Basque, Bretagne, Normandie và Provence, chẳng hạn. Cuốn sách này khám phá những nguồn gốc và tiến hóa của Đà Lạt trong kỷ nguyên thuộc địa, khảo sát nhiều căng thẳng và nghịch lý trên đường đi của nó.

Đà Lạt sẽ còn quyến rũ mọi người lâu dài. Dường như nó gieo niềm hoài nhớ cho ngay cả một thế hệ trẻ Việt Nam, những người xem nó như một nơi chốn lãng mạn và thoát ly. Cảm nhận đương đại này, về nhiều mặt, là sự đứt đoạn với cảm nhận thực dân Pháp về Đà Lạt như một sự thay thế cho nước Pháp, một bản sao thu nhỏ của mẫu quốc.
(Trích Lời tác giả nhân dịp ra mắt bản tiếng Việt)

Thông tin diễn giả:
Nhà báo TRẦN ĐỨC TÀI
- Sinh năm 1964.
- Nhà báo, dịch giả.
- Từ 2012 viết báo và dịch thuật tự do.
- Từng tham gia đào tạo nghiệp vụ cho các khoá tập huấn phóng viên của báo Tuổi Trẻ tổ chức ở Đà Lạt, sinh viên khoa Báo chí - Truyền thông ĐH KHXHNV ở Tp.HCM, và dự án “Độc giả thông minh” (News Literacy) tại ĐH Yersin ở Đà Lạt theo chương trình tài trợ của Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ.
- Dịch giả và chủ biên các sách nghiệp vụ được dùng làm tài liệu nghiên cứu giảng dạy ở Khoa Báo chí - Truyền thông ĐH KHXHNV Tp.HCM như:

1. Ảnh báo chí (The Associated Press Guide to Photojournalism - Brian Horton) – NXB Thông tấn thuộc TTXVN – 2003, tái bản 2004. (Dịch giả).
2. Nhà báo hiện đại (News Reporting and Writing - The Missouri Group) – NXB Trẻ 2007, tái bản 2013. (Chủ biên nhóm dịch thuật giảng viên Khoa Báo chí-truyền thông ĐH KHXHNV Tp.HCM).
3. Con mắt biên tập (The Editorial Eye – Jane T.Harrigan & Karen Brown Dunlap) – NXB Tổng hợp Tp.HCM – 2011. (Dịch giả, theo nguồn tài trợ của Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ cho báo Sài Gòn Tiếp Thị).
4. Làng báo Sài Gòn 1916-1930 (The Birth of Vietnamese Political Journalism – Philippe M.F. Peycam) – NXB Trẻ – 2015. (Dịch giả).
5. Hiệu đính tác phẩm sử học Đỉnh cao đế quốc của Eric T. Jennings (ĐH Hoa Sen và NXB Hồng Đức, 2015).

Dịch giả PHẠM VIÊM PHƯƠNG 
- Sinh năm 1955. 
- Tốt nghiệp khoa Sử, Đại học Sư phạm TP HCM năm 1977. 
- Bắt đầu công việc dịch (Anh - Việt) từ năm 1987.
Các tác giả Phạm Viêm Phương từng chuyển thể tác phẩm sang tiếng Việt:
- Don DeLillo (The body artist / Nghệ sĩ hình thể, NXB Văn học 2010).
- Harper Lee (To Kill a Mocking Bird / Giết con chim nhại, dịch chung với Huỳnh Kim Oanh, NXB Văn học 2008).
- Orhan Pamuk (My name is Red / Tên tôi là Đỏ, NXB Hội nhà văn 2007, giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2008).
- John Steinbeck (The Wayward Bus/ Rời nẻo đường quen), NXB Văn nghệ TPHCM, 1999.
- Ernest Hemingway (Tuyết trên ngọn Kilimanjaro và những truyện ngắn khác, dịch chung với Huy Tưởng, NXB Văn nghệ TP HCM, 1997).
- Philip Roth (The human stain, chưa xuất bản).
- John Updike (Rabit, run; chưa xuất bản).
- George Orwell (1984, chưa xuất bản).
- Cùng hơn 30 đầu sách dịch khác.

Theo Ban Tu Thư HSU

Nhằm cung cấp thêm tài liệu học tập và tham khảo cho sinh viên, học viên các hệ đào tạo ở các trường đại học, học viện, cao đẳng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách Hỏi - đáp về xã hội học đại cương của các tác giả là những giảng viên của Học viện Tài chính, Đại học Sài Gòn, do TS. Dương Quốc Quân, TS. Lê Thị Tuyết (Đồng chủ biên). 


Cuốn sách gồm 75 câu hỏi và trả lời phân tích về các phạm trù và khái niệm cơ bản như cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội, nhóm xã hội, thiết chế xã hội...; các quan điểm của một số trường phái xã hội học và một số nhà xã hội học tiêu biểu; lịch sử hình thành và phát triển của xã hội học; cách thức và quy trình tiến hành một cuộc điều tra, bảng câu hỏi (phiếu điều tra), phương pháp thu thập thông tin (phân tích tài liệu có sẵn, quan sát, phỏng vấn, ankét, thực nghiệm), phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật điều tra xã hội học.

Đây là một trong những môn học cơ bản trong chương trình đào tạo của nhóm ngành khoa học xã hội - nhân văn, kinh tế, tài chính ở các trường đại học, học viện, cao đẳng. Môn học này trang bị cho học viên, sinh viên những tri thức khoa học về các lĩnh vực xã hội và kỹ năng vận dụng chúng vào việc nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra.


Là một môn khoa học mới, còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, do đó cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót. Nhà xuất bản và các tác giả xin trân trọng giới thiệu cuốn sách và mong nhận được sự góp ý của bạn đọc.

So với sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn:

Thứ nhất: Khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương.

Thứ hai: Tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất..., thúc đẩy sản xuất phát triển.

Thứ ba: Buộc những người sản xuất hàng hoá phải luôn luôn năng động, nhạy bén.

Thứ tư: Làm cho giao lưu kinh tế văn hóa giữa các địa phương, các ngành ngày càng phát triển.

Thứ năm, xóa bỏ tính bảo thủ trì trệ của kinh tế tự nhiên.
Powered by Blogger.