Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng của nó ở nước ta

Kem ủ tóc Garnier chiết xuất Olive Ultra Doux

Đông La

Chủ nghĩa Hậu hiện đại là vấn đề không mới nhưng nó vẫn ảnh hưởng và còn đang là “mốt” đối với một nhóm nhỏ văn nghệ sĩ ở ta. Viết về nó là khó, không phải vì cao siêu mà vì nó không thống nhất; tinh thần chung là muốn vượt qua giới hạn của chủ nghĩa hiện đại, nhưng “hiện đại” lại là một khái niệm đa nghĩa.

Một mặt, về mặt nghệ thuật, nó nối tiếp tinh thần của những trào lưu tiền phong thuộc chủ nghĩa hiện đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; một mặt về tư tưởng nó chống lại tinh thần hiện đại của chủ nghĩa duy lý Cận đại, học thuyết Khai sáng. Riêng về mặt triết học, nó thuộc loại “phản triết học” bởi nó không tin vào khả năng của triết học với tư cách sự thống nhất lý luận và thế giới quan.

Nhìn lại hơn thế kỷ qua, khi khoa học phát triển đã kéo theo sự thay đổi trong nghệ thuật. Với chủ nghĩa hiện thực, tiêu chuẩn “giống thật” là chủ soái. Nhưng khi con người làm ra máy ảnh thì chuyện vẽ giống thật trong hội họa lại trở thành quá đơn giản. Một loạt trào lưu của chủ nghĩa hiện đại đã ra đời. Monet, ông tổ của hội họa ấn tượng, khi vẽ nhà thờ Rouen, đã chú trọng thể hiện sự khác nhau của hiệu ứng quang học do sự chiếu sáng khác nhau mà không quan tâm lắm đến đường nét.

Khi khoa học đưa ra những công thức, liên kết những ký hiệu theo cái “ngữ pháp” của toán học, có thể diễn tả được những quy luật của tự nhiên, thì chủ nghĩa tượng trưng bên nghệ thuật cũng coi mầu sắc, ngôn ngữ là ký hiệu để biểu đạt, biểu cảm. Van Gogh dùng những tương phản mầu hồng dịu với mầu đỏ máu, mầu xanh dịu với mầu xanh gắt để tả một bầu không khí ngột ngạt, một nơi ăn chơi trác táng. Baudelaire cho thiên nhiên như một khu rừng biểu tượng, mầu sắc, âm thanh, hương vị đều có một sự tương giao.

Đầu thế kỷ XX, dựa vào những phát minh và đặc biệt là cơ học lượng tử cho thấy trong thế giới vi mô định luật ngẫu nhiên có tính quyết định, chủ nghĩa siêu thực ra đời. Bài “Tự do kết hợp” của A. Breton như một tuyên ngôn, gồm một loạt hình ảnh xuất hiện tự do, kết hợp ngẫu nhiên, hoàn toàn vô nghĩa nếu theo hệ quy chiếu của thơ hiện thực. Rồi một loạt chủ nghĩa khác xuất hiện, nhân danh tiến bộ hơn, làm nên gương mặt vô cùng đa dạng của nghệ thuật hiện đại.

Thế kỷ XX cũng là thế kỷ của những sự kiện vĩ đại. Cùng với thuyết Tương đối, sự phát minh ra thuyết giãn nở của vũ trụ, bức xạ tàn dư; các nhà bác học đã tìm ra điều phi thường: vũ trụ thoát thai từ một vụ nổ khủng khiếp Big Bang. Con người cũng có tham vọng dõi mắt vào cõi cùng tận của thế giới vi mô; muốn tìm ra viên gạch cơ bản cuối cùng, quy luật cơ bản cuối cùng của vật lý.


Nhưng rồi những năm cuối của thế kỷ, thực tiễn đã chứng tỏ, về mặt xã hội, những chủ thuyết lớn nếu không vận dụng sáng tạo sẽ dẫn đến đổ vỡ; về tự nhiên, các nhà bác học với những nghiên cứu công phu lại nhận ra cái giới hạn của nhận thức. Sự phát minh ra Big Bang lại đặt ra cho các nhà vật lý bài toán về điểm 0 của thời gian, cái trạng thái kỳ dị cần phải có một phương trình tối hậu thống nhất được các lực vật lý, nhưng đến nay vẫn chưa ai tìm ra được.

Sự đổ vỡ của những thể chế quan liêu giáo điều, sự nổi giận của thiên nhiên chống lại sự cải tạo của con người, chạy đua chiến tranh, phân biệt chủng tộc, mất bình đẳng giới, chênh lệch giàu nghèo … cùng với sự phát minh ra lý thuyết hỗn độn, hiệu ứng cánh bướm, hình học fractal, những hệ phi tuyến… là những cơ sở sâu xa để tinh thần hậu hiện đại xuất hiện.      

Theo Lyotard, chúng ta đang sống trong thời hậu hiện đại, thời mà tất cả những lý thuyết có từ thời Ánh sáng đều đã bị đổ vỡ. Theo ông, tinh thần hậu hiện đại sinh ra là để chống lại sự độc tài của các chủ thuyết mà ông gọi là các siêu văn bản (métarécit); cho không có một thứ nguyên lý nào phổ quát cho tất cả; chống lại quan niệm rằng trật tự và ổn định là luôn luôn tốt và coi sự hỗn loạn, bất ổn là luôn luôn xấu.


"Dẫu em có nghi ngờ ! Ngôi sao là ánh lửa ! Mặt trời di chuyển chỗ ! Chân lý là dối lừa ! Nhưng em chớ nghi ngờ ! Tình yêu Anh em nhé."
  • SHAKESPEARE
 Đối với hậu hiện đại, mọi sự thật vĩnh hằng sẽ biến mất, thay vào đó là những biểu hiện của những hiện tượng không bản chất. Thời hậu hiện đại là thời của sự lựa chọn không ngừng, nó là hệ quả của sự bùng nổ thông tin. Đó là một thời không phải chỉ thuộc về những người giàu có mà mỗi người đàn ông đều trở thành một công dân thế giới và mỗi người đàn bà là một cá nhân được giải phóng. Để chống lại siêu văn bản (chủ thuyết lớn), hậu hiện đại phát huy tính chất đa dạng, coi trọng vai trò cá nhân, các nhóm, coi trọng các lý thuyết nhỏ, những tiểu văn bản (petits récits). Những tiểu văn bản của hậu hiện đại thường có cách nhìn tạm thời, ngẫu nhiên, không khái quát tính thống nhất, tính ổn định, tính hợp lý hay sự thật khách quan. Trong đó tất cả mọi ý kiến đều có quyền hiện diện, kể cả sự bất đồng và nói sai (paralogie). Khoa học hậu hiện đại nghiên cứu những bấp bênh, vô thường của đời sống. Lyotard viết: "Nói một cách giản dị nhất, người ta coi "postmoderne" là sự không tin vào những lý thuyết lớn, siêu văn bản (métarécits) (ý nói những chủ nghĩa).

Trong lĩnh vực nghệ thuật, các kiến trúc sư đã đi tiên phong. Venturi phê bình lối kiến trúc đơn điệu cộc lốc của các cao ốc mang nặng tính thực dụng về mặt bằng mà lại bỏ quên tính đa dạng. Năm 1972, những khối nhà cao tầng do Yamasaki thiết kế từng đoạt giải kiến trúc Pruitt-Igoe tại Mỹ bị giật sập. Những nghệ sỹ hậu hiện đại chối bỏ những tiêu chí chung về cái đẹp của chủ nghĩa hiện đại. Những nhà hiện đại đòi hỏi nghệ thuật trở nên tiên nghiệm và siêu việt. Trái lại, những nghệ sỹ hậu hiện đại lại muốn nghệ thuật gắn liền với hoàn cảnh xã hội đặc trưng cụ thể, mang tính thời sự. Họ cũng vất bỏ tính quý phái, hàn lâm, tính avant garde của các nhà hiện đại, bởi sự phát triển mạnh của tính công khai và công cộng. Edit Deak tuyên bố: “Nghệ thuật hậu hiện đại sản sinh ra những cú shock của nhận thức chứ không phải những cú shock của cái mới”.

Các họa sỹ đã thể hiện tinh thần hậu hiện đại bằng sự châm biếm mỉa mai một cách ngang bướng, bởi họ thấy thân phận của con người thật giản đơn và đáng cười. Họ cũng đã cắt đứt với nghệ thuật tiền phong nên sẵn sàng thử bất cứ điều gì: sự phi lý, sự phạm thánh, sự hỗn loạn, sự ngớ ngẩn, và sự cố chấp. Cái phản chất lượng được lên ngôi bởi sự khác thường, sự tự do, và sự phá vỡ khuôn khổ. Tác phẩm hiện diện như là một tổng thể của sự rối loạn, phi trật tự và vô chính phủ. Có người tuyên bố thích sự lai tạp hơn là thuần khiết, sự bóp méo hơn là tròn trịa. Tính nước đôi mơ hồ hơn là sự rõ ràng.

Sự ngang bướng cũng tốt như sự vô cá tính, buồn chán cũng tốt như phấn hứng, nguyên sơ tốt hơn là được thiết kế, sự kết hợp hơn là loại trừ, sự phức tạp hơn là giản dị, dấu tích cổ cũng tốt như sự cách tân, sự tương phản và lập lờ hơn là trực tiếp và rõ ràng. Nhiều họa sĩ đã khước từ loại nghệ thuật object (vật thể) mà thay vào đó loại nghệ thuật process (quá trình) không kết thúc trong sản phẩm. Sử dụng những chất liệu không bền vững hoặc hoàn toàn phi chất liệu (body art). Từ chối việc làm nghệ thuật theo cách truyền thống, họ săn tìm những chuyển động mới. Nghệ thuật của họ phi quy ước, phi trung tâm.

Phê bình gia văn chương Ihab Hassan đã đưa ra danh sách của những tính chất đối nghịch giữa Hiện đại - Hậu hiện đại: Hình thức (đóng) - Phi hình thức (mở); Được thiết kế -Tình cờ; Tác phẩm như đích cuối - Tác phẩm như hành trình, trình diễn, happening; Sáng tạo - Giải sáng tạo; Tập trung - Rải rác; Lọc thải - Lai tạp.

Barry Lewis, trong một bài viết rất cụ thể, bao gồm ý của ông và ý của nhiều người, đã vẽ lên bức tranh khá sinh động và cụ thể về văn chương hậu hiện đại, cho nó không nhất quán vì thể hiện rất khác nhau nên khó đưa ra một lý thuyết mạch lạc để phân tích, nhưng vẫn có thể chỉ ra được những nét đặc trưng. Trong đó, hầu như mọi sự việc và con người đều bị bóp méo; tính trung thực và lành mạnh bị phế bỏ; nhân vật tùy tiện không thể giải thích nổi vì chính tác phẩm cũng tồn tại như một ẩn dụ về sự phá vỡ trật tự.

Trước hết là phá vỡ trật tự thời gian: chủ nghĩa hậu hiện đại đã làm méo mó lịch sử một cách có ý thức phản tỉnh, hư cấu những văn bản về những biến cố nổi tiếng, sự sái niên đại, hay việc hoà lẫn lịch sử và giả tưởng, làm sai lệch cả hiện tại. Sự nhại phỏng (pastiche): một loại hoán vị, xáo trộn những kiểu viết cũ. Các nhà văn cho rằng không còn có thể đưa ra được những cách viết mới, chỉ có thể thực hiện được một số kết hợp từ sự lượm lặt những văn phong đang hiện hữu trong lịch sử văn chương. Mục đích của lối lai tạp này có tính giật gân hơn là nhại văn để giễu cợt. Phá vỡ cấu trúc: nhà văn hậu hiện đại gắng hết sức đập nát bốn yếu tố của tiểu thuyết là cốt chuyện, nhân vật, cảnh trí và đề tài, cốt chuyện bị nghiền nhỏ thành những biến cố và hoàn cảnh, nhân vật bị phân tán thành một bó của những khát vọng, cảnh trí chỉ mô tả sơ sài.

Họ không thích sự liền mạch và kết thúc trong truyện thuyền thống, mà ưa chuộng phương thức đa kết, bằng cách ban cho một cốt chuyện rất nhiều hệ quả có thể có được. Tác giả có thể trực tiếp nói chuyện với độc giả, còn tự bước vào truyện như một nhân vật. Vài tác giả còn phá vỡ kết cấu văn bản, trong những khoảng trống, nhà văn ghép vào những trích dẫn, hình ảnh, biểu đồ, đồ thị, bản thiết kế… hoàn toàn không quan hệ gì đến câu chuyện. Có bản văn có màu khác nhau, chữ in đậm, in nghiêng, kiểu chữ Gothic, chữ viết tay, dấu ký âm, dấu nhấn giọng, và cả những thứ linh tinh những cột, những chú thích chen chúc bên cạnh những vết bẩn tách cà phê, dấu hoa thị…

Tính hỗn độn: nhà văn hậu hiện đại sử dụng để phá vỡ cách tạo dựng và tiếp nhận suông sẻ văn bản, họ đem yếu tố ngẫu nhiên vào tác phẩm. Cuốn The Unfortunates (1969) của B.S. Johnson, là một hộp-tiểu-thuyết không đóng gáy, những phần của tác phẩm có thể được xáo trộn tự do. Có tác phẩm được sắp xếp đơn thuần bởi trật tự ngẫu nhiên, có khi là sự bừa bãi của bản thảo trong căn phòng. Có những cuốn dùng phương pháp cắt-vụn của họa sĩ Tristan Tzara, gồm việc cắt rời những câu văn trong một số văn bản, xáo trộn lên, rồi xếp những mảnh giấy vụn đó theo thứ tự ngẫu nhiên.

Một kiểu tạo ngẫu nhiên khác là gấp đôi một trang văn, rồi ghép khít với một nửa của một trang khác. Sự hoang tưởng (paranoia): dạng tâm trạng đầy sợ hãi và ngờ vực của thời Chiến Tranh Lạnh. Những nhân vật chính trong văn chương hậu hiện đại, theo Tony Tanner, luôn có một "niềm kinh hãi rằng có ai đó đang vẽ kiểu cho cuộc sống của mình”; thấy xã hội có âm mưu chống lại cá nhân. Vicious circles: nghĩa đen là vòng luẩn quẩn để chỉ cái đặc tính “đi tắt” trong văn chương hậu hiện đại, khi ranh giới giữa cái nội tại của văn bản và thế giới ngoại tại bị xóa nhòa, những chỗ “đoản mạch” khi tác giả bước vào trong văn bản và những tình thế những nhân vật lịch sử có thật xuất hiện trong những tác phẩm hư cấu.

Các nhà phê bình cho rằng, tất cả những sự khác thường đó của bút pháp hậu hiện đại, cái triệu chứng rối loạn ngôn từ, là do trong sự rạn nứt của xã hội tư bản, chúng chính là biểu hiện, theo Lyotard: “hiện nay chúng ta đang ở trong một hình thức mới của bệnh thần kinh phân liệt".

Chủ nghĩa Hậu hiện đại cũng như mọi trào lưu đã xuất hiện khác đều có phần có lý. Tư tưởng chống giáo điều, chống khuôn mẫu xơ cứng, áp đặt; đấu tranh cho bình đẳng, dân chủ, vai trò cá nhân; phá vỡ những quy phạm nghệ thuật mòn cũ… là những mặt tốt. Nhưng ở ta, tiếp thu nó với ý thức mê muội, nô lệ, đề cao một cách phi lý, áp dụng một cách cực đoan thì khó mà được ủng hộ rộng rãi. Về mặt tư tưởng, sự cực đoan theo tinh thần hậu hiện đại sẽ dẫn đến sự hỗn loạn vô chính phủ.

Ngay Lyotard, nhà tư tưởng đã xây những tầng nền đầu tiên cho trào lưu hậu hiện đại, cũng rất cực đoan khi cho tất cả các lý thuyết đã có đều đổ vỡ, bởi trong thực tế chả có lý thuyết nào đổ vỡ hoàn toàn cả mà chúng chỉ chưa hoàn chỉnh, chúng đều góp phần như những viên gạch lát con đường tiệm cận đến chân lý; còn nếu tất cả là sai và đổ vỡ thì thế giới không thể có nền văn minh hôm nay. Trong văn chương nghệ thuật, sự cực đoan của chủ nghĩa hậu hiện đại sẽ biến nó thành trò chơi lập dị, vô nghĩa.

Một số nhà phê bình người Việt ở hải ngoại đã tuyên truyền hậu hiện đại một cách phi lý: “Cuộc đấu tranh lớn nhất của giới cầm bút Tây phương trong khoảng gần một nửa thế kỷ vừa qua chính là để thoát ra khỏi bóng ma của tham vọng thể hiện cái tôi và tái hiện hiện thực”. “Cái tôi và hiện thực” là toàn bộ cuộc sống loài người, văn chương không thể hiện nó thì thể hiện hư không chăng? Rồi: “Chỉ còn lại hai mối quan hệ chính: quan hệ giữa tác phẩm văn học với chính nó và quan hệ giữa tác phẩm văn học này và những tác phẩm văn học khác”. Có lẽ nên viết cần cắt đứt mọi áp đặt chủ quan lên văn chương thì đúng hơn, còn viết như trên khác gì cho tác phẩm có thể tự sinh ra rồi tự thưởng thức nhau! Có người khi đề cao hậu hiện đại đã rất cao ngạo khi nhìn văn chương trong nước, nhưng chỉ bằng con mắt thô thiển nông cạn: “Mọi người cầm bút dường như có một cái khuôn chung được đúc sẵn… người ta chỉ làm mỗi một công việc đơn giản là "rót" câu chuyện của mình vào”.

Giống như ca nhạc, mỗi loại nhạc đều có nét hay riêng nếu nhạc sĩ làm ra nó có tài và ca sĩ hát nó hay. Văn chương hậu hiện đại cũng vậy, nếu nhà văn có tài cũng có thể viết hay. Nhưng hình thức nghệ thuật luôn chỉ là cái vỏ, cái tạm thời, nay là mới mai đã là cũ rồi. Chỉ có sự độc đáo và sâu sắc là những cái bất biến, là những thuộc tính vĩnh cửu làm nên giá trị đích thực của văn chương. Sự độc đáo thuộc về tài văn, sự sâu sắc thuộc về trí tuệ của mỗi tác giả. Bản chất muôn đời của văn chương mãi mãi phản ánh tinh thần và cuộc sống con người, không cần đến sự đổ khuôn của các chủ nghĩa cực đoan nó cũng luôn biến đổi, bởi tinh thần và cuộc sống của con người luôn biến đổi.

Tinh thần hậu hiện đại đã và đang phảng phất đâu đó trong văn chương Việt Nam cũng là lẽ thường tình, nhưng không có tài, không hiểu biết đến nơi đến chốn mà mê muội bắt chước, thì chỉ làm ra được những bản sao tồi mà thôi. Cũng đã có những nhóm cực đoan đúng là đã làm ra được văn chương hậu hiện đại thứ thiệt nhưng tiếc là chỉ mới ở dạng thấp nhất của nó. Ví dụ như tính phản kháng, phản kháng cao cấp tức là phải có khả năng phân tích sự yếu kém của cái cũ và đưa ra được cái mới tốt hơn thay thế, còn chỉ chống đối suông thì quá đơn giản. Có người đã mạnh miệng tuyên bố chúng tôi viết thế là để chống đối đấy.

Có điều, sự chống đối đó không phải là phẩm chất cao quý để vượt qua chủ nghĩa hiện đại mà chỉ đơn giản là “quậy”, cái thái độ không cần đến nghệ sĩ mà những kẻ bất hảo vô học còn làm tốt hơn. Có quá nhiều sự thô bỉ, bẩn thỉu, nhầy nhụa và hằn học, thậm chí lưu manh, trong văn chương “hậu hiện đại” này. Trong văn chương có hỗn loạn, thô tục, bẩn thỉu, bởi cuộc sống có phần như thế, nhưng coi chúng là “đặc trưng”, là “thi pháp” thì đã phi lý, phi mỹ, phi luân và cuối cùng là phi nhân hóa những đặc tính của văn chương.

Bởi đã là con người bình thường ai cũng biết phân biệt tốt với xấu, sạch sẽ với bẩn thỉu, lịch sự với thô tục… người ta chỉ để thùng rác chỗ khuất lấp chứ có ai lại trưng ra trong phòng khách, mà văn chương như phòng khách của tinh thần, không thể quăng bừa rác, uế tạp và thô bỉ lên đó được. Đã có những nhà phê bình, những trang web mang danh ở xã hội hậu hiện đại văn minh đề cao loại văn chương đó, cố công độc đáo hóa cái lập dị, nghiêm túc hóa cái bông phèng, sâu sắc hóa cái vô nghĩa, cao siêu hóa cái tầm thường, và cuối cùng là nhân bản hóa cái phi nhân tính, bởi đã kỳ công đi phân tích mùi thơm của thối rữa, tô vẽ màu sắc cho rác rưởi; cả hai, cả sự sáng tạo và thẩm định, hoàn toàn có thể nói thực chất chỉ là sự xả rác trí tuệ mà thôi.

Bài viết có tham khảo: Art of the Post Modern Era của Irving Salder (Như Huy dịch); Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chương của Barry Lewis (Hoàng Ngọc Tuấn dịch); bài của Thụy Khuê và vài người khác về chủ nghĩa hậu hiện đại.- Bài do tác giả gởi

Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/
Mô tả

Author: Triết học+

Mô tả ở đây

YOU MAY LIKE:



-->